Luật Dân sự

Thủ tục tố tụng nào mà người đại diện ủy quyền không thể thực hiện

Khi tham gia tố tụng tại Tòa án, đương sự có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện nhưng trong những trường hợp nhất định, đương sự không thể ủy quyền cho người khác xác lập giao dịch cũng như tiến hành các thủ tục tố tụng tại Tòa án. Bài viết dưới đây Luật Long Phan sẽ làm rõ hơn quy định của pháp luật liên quan đến người đại diện theo ủy quyền đồng thời giải đáp vấn đề thủ tục tố tụng nào mà người đại diện ủy quyền không thể thực hiện. Thủ tục tố tụng nào mà người đại diện ủy quyền không thể thực hiện

Thủ tục tố tụng nào mà người đại diện ủy quyền không thể thực hiện

Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Quy định pháp luật về đại diện ủy quyền trong tố tụng dân sự

Theo Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Trong khoản 4 điều này quy định người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự là đại diện theo ủy quyền theo quy định Bộ luật dân sự 2015. Điều 138 Bộ luật dân sự 2015 quy định đại diện theo ủy quyền cụ thể như sau:

  • Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
  • Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.
  • Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự. Khác với người đại diện theo pháp luật và người đại diện do Tòa án chỉ định thì đương sự được đại diện là người có năng lực hành vi tố tụng nên người đại diện theo ủy quyền chỉ được tham gia tố tụng khi được đương sự ủy quyền thay mặt họ trong tố tụng dân sự.

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong tố tụng dân sự

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

  • Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện.
  • Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền.

Người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện. Văn bản ủy quyền xác định phạm vi thẩm quyền của người được ủy quyền. Việc xác lập văn bản ủy quyền và giải quyết các tranh chấp phát sinh phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về hợp đồng ủy quyền Thủ tục tố tụng mà người đại diện ủy quyền không thể thực hiện khi tham gia vụ án dân sự

Thủ tục tố tụng mà người đại diện ủy quyền không thể thực hiện khi tham gia vụ án dân sự

Tranh chấp liên quan đến nhân thân

Ly hôn

Trong vụ án ly hôn, ngoài việc không được phép ủy quyền cho người khác giải quyết ly hôn thì đương sự cũng không được phép ủy quyền cho người khác để giải quyết phần tranh chấp tài sản, nghĩa vụ về tài sản và con chung trong vụ án hôn nhân gia đình. Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự quy định rằng đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân gia đình thì họ là người đại diện.

Quyền tác giả

Điều 49 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định về việc bảo vệ quyền tác giả như sau: Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan trực tiếp hoặc có thể ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức, cá nhân khác để thực hiện và bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của mình. Điều này cũng được khẳng định tại Mục II.1 Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan. Theo đó, những chủ thể sau có quyền bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan: Thứ nhất. Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan. Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (khoản 2 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019).

 

Chủ sở hữu quyền liên quan bao gồm tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn; tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sản xuất bản ghi âm, ghi hình; tổ chức phát sóng (Điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019). Thứ hai. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức, cá nhân khác được chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền. Thứ ba. Cơ quan nhà nước, tổ chức liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. Như vậy, đối với quyền tác giả không phải chủ thể nào cũng có thể trở thành người đại diện theo ủy quyền khi tham gia hoạt động tố tụng tại Tòa án.

Thủ tục đối chất trong tố tụng dân sự

Điều kiện thực hiện đối chất

Căn cứ vào quy định tại Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau. Nói cách khác, đối chất không phải là thủ tục bắt buộc trong hoạt động tố tụng, Thẩm phán chỉ tiến hành đối chất khi có yêu cầu của đương sự hoặc không thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng.

Thẩm quyền thực hiện đối chất

Theo quy định tại Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Thẩm phán có thể cho đối chất giữa các đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau. Khi tiến hành đối chất, Thẩm phán có thể tự ghi biên bản hoặc có thư ký giúp Thẩm phán ghi biên bản đối chất.

Thủ tục đối chất trong tố tụng dân sự

Trước khi tiến hành đối chất: Thẩm phán tiến hành nghiên cứu chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án dân sự, xây dựng kế hoạch đối chất cụ thể, rõ ràng. Trước khi bắt đầu đối chất, Thẩm phán phải kiểm tra thông tin cá nhân của người tham gia đối chất. Nếu có người làm chứng hoặc  phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Tiến hành đối chất, Thẩm phán hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Với mỗi câu hỏi, Thẩm phán đưa ra cho người này trả lời, người này trả lời xong thì Thẩm phán cũng hỏi lại câu hỏi đó với người kia và yêu cầu người kia trả lời. Sau khi hỏi và những người tham gia đối chất trả lời xong câu hỏi này, Thẩm phán  đưa ra các câu hỏi khác cho đến khi hết các vấn đề cần hỏi. Thẩm phán nên tăng cường cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau nhằm giải quyết các mâu thuẫn, góp phần xác định sự thật vụ án. Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ. Điều này để bảo đảm khách quan trong lời khai của những người tham gia đối chất. Thủ tục đối chất trong tố tụng dân sự

Thủ tục đối chất trong tố tụng dân sự

 

Trên đây là một số tư vấn sơ lược về Thủ tục hòa giải lao động và đối thoại tại nơi làm việc. Để tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan về lĩnh vực lao động quý khách có thể truy cập Luật sư dân sự để tham khảo một cách chi tiết và kịp thời nhất, đồng thời bạn đọc vui lòng liên hệ qua số HOTLINE 1900.63.63.87 để được tư vấn và hỗ trợ. Xin cảm ơn! 

5 (11 bình chọn)

Bài viết được thực hiện bởi Lê Minh Phúc - Chuyên Viên Pháp Lý

Chức vụ: Chuyên viên pháp lý

Lĩnh vực tư vấn: Thừa Kế, Dân Sự, Đất Đai

Trình độ đào tạo: Đại học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 3 năm

Tổng số bài viết: 445 bài viết