Luật Đất Đai

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đòi nhà cho người khác ở nhờ

Tranh chấp đòi nhà cho người khác ở nhờ diễn ra rất phổ biến, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc quá đặt niềm tin vào người được ở nhờ. Quá trình giải quyết vụ án rất lâu, phức tạp, nhiều trường hợp chủ sở hữu thật sự không thể đòi lại được nhà từ người chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp. Vì vậy, người cho ở nhờ cần tìm hiểu và chuẩn bị các giấy tờ và thực hiện khởi kiện để đòi lại nhà đúng pháp luật.

Tranh chấp đòi nhà cho người khác ở nhờ

Các dạng tranh chấp nhà cho ở nhờ

Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ 

Pháp luật hiện hành quy định việc cho ở nhờ được hiểu như sau là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho ở nhờ giao nhà ở cho bên ở nhờ để sử dụng mà không phải trả tiền, còn bên ở nhờ được sử dụng nhà ở đó để ở (có thời hạn hoặc không có thời hạn) và phải trả lại nhà ở đó khi hết hạn như đã thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của bên cho ở nhờ (nếu chưa có thỏa thuận thời hạn trả nhà trước đó). Việc ở nhờ nhà ở có thể được thực hiện thông qua hợp đồng hoặc bằng miệng.

Tranh chấp nhà ở xảy ra khi bên ở nhờ không chịu trả nhà lại cho bên chủ sở hữu (người cho ở nhờ) khi hết thời hạn trên hợp đồng hoặc theo yêu cầu của chủ sở hữu, trường hợp các bên không có thỏa thuận thời hạn trả nhà trên hợp đồng hoặc không có hợp đồng.

Quyền đòi lại nhà khi có tranh chấp đối với nhà cho người khác ở nhờ

Theo quy định pháp luật, Điều 164 và Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 thì chủ sở hữu có quyền đòi lại nhà ở từ người chiếm hữu, sử dụng tài sản của mình. Nghĩa là có quyền đòi lại nhà ở do người khác ở nhờ đang chiếm giữ, sử dụng.

Do vậy, căn cứ Điều 26, Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì để đòi lại tài sản là căn nhà đã cho ở nhờ, chủ sở hữu có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết, buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình phải trả lại tài sản.

Tranh chấp đòi lại nhà có bắt buộc hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không?

Căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chng là quyn sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

Như vậy tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ không bắt buộc phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã vì đây không phải tranh chấp về xác định chủ thể có quyền sử dụng đất mà đây là tranh chấp giao dịch liên quan đến đất.

Những lưu ý khi giải quyết tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ

Trong quá trình giải quyết tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ, để lấy lại được căn nhà đang do người khác ở nhờ, đang chiếm hữu và sử dụng thì cần có cơ sở để chứng minh căn nhà đang tranh chấp là nhà ở do mình đang là chủ sở hữu hợp pháp và người đang chiếm hữu, sử dụng kia là người chỉ được ở nhờ, ta cần làm rõ các vấn đề sau:

Trường hợp 1: Các bên có hợp đồng ở nhờ

Thứ nhất, dựa vào Hợp đồng cho ở nhờ để chứng minh người đang chiếm hữu, sử dụng nhà, không phải là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà đang tranh chấp. Đồng thời dựa vào giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu của người cho ở nhờ để làm căn cứ đòi lại nhà.

Thứ hai, theo pháp luật tại khoản 2 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên, nếu hợp đồng có ghi thời hạn trả thì căn cứ vào hợp đồng, ta có quyền đòi lại nhà sau khi hết thời hạn đã thỏa thuận như trong hợp đồng.

Trường hợp 2: Không có hợp đồng hay văn bản cho ở nhờ

Cần chứng minh quyền sở hữu đối với căn nhà đang tranh chấp, nghĩa là chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà. Để chứng minh ta cần có các giấy tờ sau:

Một là, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Vì theo khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định các giấy tờ trên là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Hai là, các giấy tờ khác để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với ngôi nhà như sau:

Nếu căn nhà trên được tạo lập hợp pháp do đầu tư xây dựng thì căn cứ vào hồ sơ xin cấp phép xây dựng, quyết định chấp thuận và giấy phép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu công trình thuộc trường hợp phải xin phép quy định tại Điều 89 Luật Xây dựng 2014.

Nếu căn nhà có được do mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật thì cần phải có giấy, hợp đồng mua nhà, thuê mua, tặng cho, di chúc, văn bản hoặc hợp đồng góp vốn, hợp đồng đổi nhà. Ngoài ra, còn có bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp.

Với các giấy tờ nêu trên, theo quy định tại Điều 221 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 2 điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Nhà ở 2014 thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sẽ được công nhận quyền sở hữu nhà ở hợp pháp, nếu đủ điều kiện và nhà ở có các giấy tờ hợp pháp nêu trên.

Đòi lại nhà đang tranh chấp khi có hợp đồng cho người khác ở nhờ

Đòi lại nhà đang tranh chấp khi có hợp đồng cho người khác ở nhờ

Thủ tục khởi kiện tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ

Hồ sơ khởi kiện

Người khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ bao gồm:

  • Đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ theo mẫu số 23-DS ban hành kèm theo ghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 do Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành;
  • Giấy tờ pháp lý của người khởi kiện
  • Văn bản thỏa thuận cho người khác ở nhờ nhà
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở
  • Các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện khác

Thủ tục giải quyết đơn khởi kiện

Thủ tục giải quyết đơn khởi kiện được thực hiện theo các bước:

Bước 1: Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì Tòa án cấp huyện nơi có nhà tranh chấp sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đòi lại nhà ở cho ở nhờ. Trừ trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà tranh chấp.

Bước 2: Tòa án tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

  • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
  • Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
  • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
  • Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bước 3: Tòa án thụ lý đơn khởi kiện

  • Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
  • Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Bước 4: Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Tòa án sẽ mở phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các bên đương sự có thể nắm bắt thông tin vụ án và tự thỏa thuận thương lượng với nhau. Nếu việc hòa giải thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành khi các bên thỏa thuận được tất cả các vấn đề tranh chấp.

Tuy nhiên không phải mọi vụ tranh chấp đều phải hòa giải tại Tòa án nếu thuộc quy định tại Điều 206 và 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Bước 5: Chuẩn bị xét xử

Bước 6: Mở phiên tòa xét xử giải quyết tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ

Cơ sở pháp lý: Phần II Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ

Với đội ngũ Luật sư tại Chuyên tư vấn luật giàu kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn cao về lĩnh vực đất đai sẽ hỗ trợ tư vấn quý khách hàng các công việc sau:

  • Tư vấn căn cứ khởi kiện;
  • Tư vấn trình tự, thủ tục khởi kiện;
  • Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc;
  • Tư vấn soạn thảo Đơn khởi kiện;
  • Tư vấn hồ sơ khởi kiện;
  • Đại diện Khách hàng nộp đơn khởi kiện;
  • Đại diện tham gia tố tụng;
  • Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Khách hàng trước cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Các yêu cầu khác liên quan đến thủ tục khởi kiện.
  • Tư vấn hủ tục khởi kiện tranh chấp nhà cho ở nhờ trước khi xuất cảnh ra nước ngoài

tư vấn giải quyết tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ

Tư vấn giải quyết tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ

Tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ là tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự, các bên thỏa thuận về việc bên chủ sở hữu nhà cho người khác ở nhờ nhà tuy nhiên hết thời hạn cho ở nhờ mà bên ở nhờ không tự nguyện trả lại nhà cho chủ sở hữu. Tranh chấp này sẽ được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nếu khách hàng có vấn đề liên quan nhà đất hãy liên hệ hotline 1900. 63.63.87 để được luật sư chuyên đất đai hỗ trợ.

>>> Bài viết liên quan đòi lại nhà có thể bạn quan tâm:

4.5 (16 bình chọn)

Bài viết được Tham vấn bởi Luật sư: Võ Tấn Lộc - Tác giả: Vũ Thị Hải Yến
Tham vấn bởi Luật sư: Võ Tấn Lộc - Tác giả: Vũ Thị Hải Yến

Tác giả: Chuyên Viên Pháp Lý - Vũ Thị Hải Yến

Lĩnh vực tư vấn: hành chính, dân sự, đất đai, di chúc, thừa kế.

Trình độ đào tạo: Trường Đại học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 2 năm

Tổng số bài viết: 898 bài viết

5 thoughts on “Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đòi nhà cho người khác ở nhờ

  1. Avatar
    cuc says:

    toi goi don kien luat su xem ho la doi nha hay tranh chap dat

    NỘI DUNG VỤ KIỆN
    Nguyên căn nhà số 3 (số cũ:1438 )Đường Hồng Lạc,Phường 10,Quận Tân Bình, TP HCM có nguồn gốc gốc từ các căn nhà số 713,713A, 713B, 713C, 713D Ấp Phú Trung, xã Phú Thọ Hòa, do mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Bổng mua của bà Nguyễn Thị Ánh vào năm 1969 theo Tờ bán đứt ngày 22/01/1969 với diện tích : ngang 15m, dài 16m. Năm 1971 ba tôi (Ông Nguyễn Văn Quý) chết, năm 1977 mẹ tôi (Bà Nguyễn Thị Bổng) chết, chúng tôi tự thỏa thuận phân chia nhà đất theo Tờ chúc ngôn ngày 11/11/1970. Năm 1990, anh rể tôi là ông Đinh Văn Tùng tự ý cho bà Trần Mỹ Ánh mượn 1 phần nhà đất diện tích : ngang 2,5m, dài 6m (là một phần nhà đất không tách rời với số nhà 1438- nay là số 3 đường Hồng Lạc phường 10, Quận Tân Bình) làm nơi buôn bán cây gỗ phế liệu .
    Năm 1994, gia đình tôi láng xi măng phần sân bên hông phải trước cửa nhà tôi cũng là phía trước điểm mua bán gỗ phế liệu mà bà Ánh mượn sử dụng tạm trên phần nhà đất của gia đình tôi thì xảy ra tranh chấp với bà Ánh. Sự việc được UBND Phường 10 hòa giải, tại đây bà Ánh thừa nhận: “ Tôi thừa nhận phần diện tích điểm bán cây gỗ là mượn của ông Tùng, sự việc trên chúng tôi thấy có khuyết điểm”
    Thế nhưng sau đó bà Ánh không chịu trả lại phần nhà đất đã mượn, mặc dù tôi đã nhiều lần yêu cầu. Sự việc được các cơ quan chức năng giải quyết bằng các Biên bản và Quyết định sau:
    – Biên bản ngày 21/5/1996 tại UBND Phường 10
    – Biên bản ngày 02/8/2013 tại UBND Phường 10
    – Biên bản ngày 30/8/2013 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 05/9/2013 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 31/10/2013 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 27/11/2014 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 01/08/2016 tại UBND Phường 10
    – Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 02/6/2015 của UBND Quận Tân Bình

    Ngày 14/7/2016, UBND Quận Tân Bình ban hành Quyết định số: 641/QĐ-UBND, nội dung: “thu hồi Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 02/6/2015 với lý do: “ việc ban hành Quyết định nêu trên là chưa phù hợp quy định của pháp luật ”
    Rõ ràng phần nhà đất diện tích: ngang 2,5m, dài 6m do bà Trần Mỹ Ánh đang chiếm dụng là 1 phần không tách rời thuộc căn nhà số 3 (số cũ 1438) Đường Hồng Lạc, Phường 10,Quận Tân Bình, TPHCM mà gia đình tôi đã cho bà Ánh mượn tạm để buôn bán cây gỗ phế liệu, tôi đã nhiều lần đòi lại nhưng bà Ánh không trả.
    Nay yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, như sau:
    – Yêu cầu bà Trần Mỹ Ánh và Ông Trần Văn Oanh hoàn trả lại phần nhà đất diện tích: 2,5m x 6m = 15m2 thuộc một phần thửa 71, tờ bản đồ số 36 Phường 10, Quận Tân Bình đã mượn của tôi .
    Giá trị nhà đất trên tạm tính khoảng: 2.500.000 đồng x 15m2 = 37.500.000 đồng
    Rất mong được sự xem xét giải quyết của quý Tòa. Trân trọng kính chào./.
    Ghi chú : Bảng kê đính kèm đơn khởi kiện
    là danh sách hồ sơ có liên quan.
    Người khởi kiện

    • Avatar
      Triệu Hiếu Khánh says:

      Chào bạn Cuc,
      Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyentuvanluat.com.
      Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau: Đơn khởi kiện trên của bạn là yêu cầu Tòa án buộc bên bị đơn phải hoàn trả lại nhà. Như vậy căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện ở trên thì đây là đơn khởi kiện đòi nhà.
      Trường hợp bạn muốn được hỗ trợ về việc khởi kiện thì hãy liên hệ với chúng tôi theo Hotline 0908 748 368 để được tư vấn miễn phí.
      Trân trọng!

  2. Avatar
    cuc says:

    toi goi don kien luat su xem ho la doi nha hay tranh chap quyen su dung dat

    NỘI DUNG VỤ KIỆN
    Nguyên căn nhà số 3 (số cũ:1438 )Đường Hồng Lạc,Phường 10,Quận Tân Bình, TP HCM có nguồn gốc gốc từ các căn nhà số 713,713A, 713B, 713C, 713D Ấp Phú Trung, xã Phú Thọ Hòa, do mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Bổng mua của bà Nguyễn Thị Ánh vào năm 1969 theo Tờ bán đứt ngày 22/01/1969 với diện tích : ngang 15m, dài 16m. Năm 1971 ba tôi (Ông Nguyễn Văn Quý) chết, năm 1977 mẹ tôi (Bà Nguyễn Thị Bổng) chết, chúng tôi tự thỏa thuận phân chia nhà đất theo Tờ chúc ngôn ngày 11/11/1970. Năm 1990, anh rể tôi là ông Đinh Văn Tùng tự ý cho bà Trần Mỹ Ánh mượn 1 phần nhà đất diện tích : ngang 2,5m, dài 6m (là một phần nhà đất không tách rời với số nhà 1438- nay là số 3 đường Hồng Lạc phường 10, Quận Tân Bình) làm nơi buôn bán cây gỗ phế liệu .
    Năm 1994, gia đình tôi láng xi măng phần sân bên hông phải trước cửa nhà tôi cũng là phía trước điểm mua bán gỗ phế liệu mà bà Ánh mượn sử dụng tạm trên phần nhà đất của gia đình tôi thì xảy ra tranh chấp với bà Ánh. Sự việc được UBND Phường 10 hòa giải, tại đây bà Ánh thừa nhận: “ Tôi thừa nhận phần diện tích điểm bán cây gỗ là mượn của ông Tùng, sự việc trên chúng tôi thấy có khuyết điểm”
    Thế nhưng sau đó bà Ánh không chịu trả lại phần nhà đất đã mượn, mặc dù tôi đã nhiều lần yêu cầu. Sự việc được các cơ quan chức năng giải quyết bằng các Biên bản và Quyết định sau:
    – Biên bản ngày 21/5/1996 tại UBND Phường 10
    – Biên bản ngày 02/8/2013 tại UBND Phường 10
    – Biên bản ngày 30/8/2013 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 05/9/2013 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 31/10/2013 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 27/11/2014 tại Phòng TN&MT Quận Tân Bình
    – Biên bản ngày 01/08/2016 tại UBND Phường 10
    – Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 02/6/2015 của UBND Quận Tân Bình

    Ngày 14/7/2016, UBND Quận Tân Bình ban hành Quyết định số: 641/QĐ-UBND, nội dung: “thu hồi Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 02/6/2015 với lý do: “ việc ban hành Quyết định nêu trên là chưa phù hợp quy định của pháp luật ”
    Rõ ràng phần nhà đất diện tích: ngang 2,5m, dài 6m do bà Trần Mỹ Ánh đang chiếm dụng là 1 phần không tách rời thuộc căn nhà số 3 (số cũ 1438) Đường Hồng Lạc, Phường 10,Quận Tân Bình, TPHCM mà gia đình tôi đã cho bà Ánh mượn tạm để buôn bán cây gỗ phế liệu, tôi đã nhiều lần đòi lại nhưng bà Ánh không trả.
    Nay yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, như sau:
    – Yêu cầu bà Trần Mỹ Ánh và Ông Trần Văn Oanh hoàn trả lại phần nhà đất diện tích: 2,5m x 6m = 15m2 thuộc một phần thửa 71, tờ bản đồ số 36 Phường 10, Quận Tân Bình đã mượn của tôi .
    Giá trị nhà đất trên tạm tính khoảng: 2.500.000 đồng x 15m2 = 37.500.000 đồng
    Rất mong được sự xem xét giải quyết của quý Tòa. Trân trọng kính chào./.
    Ghi chú : Bảng kê đính kèm đơn khởi kiện
    là danh sách hồ sơ có liên quan.
    Người khởi kiện

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *