Luật Dân sự

Khi nào hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại ?

Khi nào hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại? Trong giao dịch dân sự hằng ngày không thể tránh khỏi việc hủy bỏ hợp đồng. Việc hủy bỏ hợp đồng thường dẫn đến hậu quả pháp lý như bồi thường thiệt hại, trả lại tiền,… Tuy nhiên trong một số trường hợp thì việc hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại. Bài viết dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu  trình tự, thủ tục cũng như khi nào hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại.

Hủy bỏ hợp đồngHủy bỏ hợp đồng

Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về bồi thường thiệt hại như sau:

Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Luật Thương mại năm 2005 cũng có quy định về bồi thường thiệt hại

  • Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
  • Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Cơ sở pháp lý: Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 302  Luật thương mại 2005

>>> Xem thêm: Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần

Hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng

Theo Luật thương mại 2005 có quy định về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng:

  • Trừ trường hợp quy định tại Điều 313 của Luật thương mại, sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
  • Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.
  • Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật thương mại.

Cơ sở pháp lý: Điều 314 Luật thương mại 2005

Cùng với đó Bộ Luật dân sự 2015 cũng quy định về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng:

  • Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.
  • Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.

Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả.

Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải được thực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  • Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường.
  • Việc giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định.
  • Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quy định tại các điều 423, 424, 425 và 426 của Bộ luật này thì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

Cơ sở pháp lý: Điều 427 Bộ luật Dân sự 2015

Trường hợp được hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại

Trường hợp hủy hợp đồng nhưng không bồi thường thiệt hạiTrường hợp hủy hợp đồng nhưng không bồi thường thiệt hại

Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:

  • Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
  • Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
  • Trường hợp khác do luật quy định.

Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.

Cơ sở pháp lý: Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015

Trường hợp hủy hợp đồng nhưng không bồi thường thiệt hại cũng được quy định trong Luật thương mại 2005

Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

  •  Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
  •  Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
  •  Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
  •  Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.

Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do một bên hủy bỏ hợp đồng trái pháp luật

Thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của Tòa án

Trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại như sau:

  • Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hủy bỏ hợp đồng là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự do đó căn cứ theo Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cụ thể là:
  • Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ có thẩm quyền giải quyết (căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015)
  • Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc theo thỏa thuận của đương sự.
  • Theo điểm c, khoản 1, Điều 37, BLTTDS 2015 thì những tranh chấp, yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài  thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 điều 35,điểm c khoản 1 Điều 37, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Hồ sơ khởi kiện tại Tòa án

Nếu khởi kiện ra Tòa bạn cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện. Hồ sơ khởi kiện sẽ bao gồm các nội dung:

  • Đơn khởi kiện: hình thức theo mẫu 23/DS nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 13 tháng 01 năm 2017 , nội dung theo khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015
  • Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Hợp đồng thuê tài sản hoặc văn bản giao dịch có giá trị như hợp đồng thuê tài sản
  • Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác.
  • Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố, thế chấp, tài sản (nếu có).
  • Tài liệu về việc thực hiện hợp đồng như giao nhận hàng, các biên bản nghiệm thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng;
  • Các tài liệu giao dịch khác (nếu có);

Cơ sở pháp lý: khoản 4,5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP

Trình tự thủ tục khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo khoản 1, Điều 190, BLTTDS 2015 thì Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

  • Nộp trực tiếp tại Tòa án;
  • Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
  • Gửi trực tuyến bằng Cổng Dịch vụ Công Quốc gia (nếu có)

Căn cứ theo quy định tại BLTTDS 2015 thì trình tự giải quyết như sau:

  • Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm các tài liệu, chứng cứ mà mình có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng phương thức nộp trực tiếp hoặc gửi theo đường dịch vụ bưu chính.
  • Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán tiến hành xem xét đơn khởi kiện và ra một trong số các quyết định như yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; thụ lý vụ án; chuyển đơn khởi kiện cho Tòa có thẩm quyền; trả lại đơn khởi kiện và nêu rõ lý do.
  • Sau khi được thụ lý vụ án, tòa án phải tiến hành quá trình chuẩn bị xét xử trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày thụ lý.
  • Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp hoặc do tự mình thu thập, Thẩm phán sẽ mở phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục luật định.
  • Trường hợp không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa án, đương sự có thể kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, nếu một người bị thiệt hại ngoài hợp đồng do các hành vi xâm phạm nêu trên thì có thể tự mình khởi kiện hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình khởi kiện tại Tòa để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Cơ sở pháp lý:Điều 186, Điều 190, Điều 191,Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Luật sư giải quyết tranh chấp hợp đồng

Tư vấn thủ tục chấm dứt hợp đồng lao độngTư vấn thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động

  • Tư vấn các quy định pháp luật về thủ tục soạn thảo hợp đồng (các điều kiện cần đáp ứng, các điều cấm,…khi soạn thảo hợp đồng);
  • Hỗ trợ pháp lý khi chấm dứt hợp đồng;
  • Soạn thảo danh sách hồ sơ tranh chấp hợp đồng
  • Tư vấn, hỗ trợ thực hiện thủ tục hồ sơ khởi kiện tại Tòa án;
  • Luật sư hỗ trợ các vấn đề khác liên quan đến trình tự, thủ tục về hợp đồng

Bài viết trên đã cung cấp cho quý bạn đọc thông tin về việc khi nào hủy bỏ hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại ?. Nếu quý bạn đọc có thắc mắc hoặc có nhu cầu tư vấn pháp lý về soạn thảo hợp đồng, vui lòng liên hệ Luật sư qua hotline 1900.6363.87 để được hỗ trợ và tư vấn tận tình nhất. Xin cảm ơn.

4.8 (13 bình chọn)

Bài viết được Nguyễn Văn Đệ - Luật sư kiểm duyệt: Nguyễn Trần Phương
Nguyễn Văn Đệ - Luật sư kiểm duyệt: Nguyễn Trần Phương

Tác giả: Chuyên Viên Pháp Lý

Lĩnh vực tư vấn: Lao Động, Hôn Nhân Gia Đình, Dân Sự, Thừa Kế

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 3

Tổng số bài viết: 743 bài viết