Luật Đất Đai

SUẤT TÁI ĐỊNH CƯ LÀ ĐẤT Ở CÓ ĐƯỢC PHÉP CHUYỂN NHƯỢNG KHÔNG?

Suất tái định cư, dù chưa được phép nhưng việc mua bán, chuyển nhượng đất ở tái định cư đã diễn ra khá nhiều. Các trang mạng mua bán bất động sản đang rao bán ồ ạt về tái đất ở tái định cư. Vậy pháp luật quy định thế nào về việc chuyển nhượng suất tái định cư là đất ở?

Suất tái định cư là đất ở co được phép chuyển nhượng không?

Tái định cư là gì?

TĐC là việc bố trí chỗ ở mới hoặc trả chi phí để người có đất bị thu hồi tìm một chỗ ở mới trong trường hợp người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi địa phương nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở. Tùy thuộc vào diện tích đất bị thu hồi và khả năng chi trả của người được TĐC, nếu người đủ điều kiện được bố trí TĐC mà không nhận tiền để tự lo chỗ ở mới, sẽ được ưu tiên bố trí TĐC tại chỗ bằng đất ở hoặc nhà ở tại khu vực có đất bị thu hồi hoặc tại nơi có điều kiện bố trí TĐC.

>>Xem thêm: Quy định của nhà nước về đền bù đất tái định cư

Nguyên tắc bố trí suất tái định cư là đất ở?

Nguyên tắc bố trí suất tái định cư là đất ở là: công khai hóa phương án TĐC; ưu tiên bố trí vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng; phương án bố trí TĐC đã được duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất bị thu hồi và tại nơi TĐC  Để được nhận một suất TĐC thì người có đất bị thu hồi phải nộp tiền sử dụng đất, giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất tại nơi TĐC do UBND cấp tỉnh quy định, trường hợp người có đất thu hồi được bố trí TĐC mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất TĐC tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất TĐC tối thiểu Để phù hợp với điều kiện, phong tục tập quán của từng vùng, miền, phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được TĐC, các suất TĐC được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau nhưng diện tích không thấp hơn suất TĐC tối thiểu bằng đất ở, nhà ở do UBND cấp tỉnh quy định.

>>Xem thêm: Thực hiện cưỡng chế khi chưa nhận đất tái định cư đúng hay sai?

Đất tái định cư là đất ở có được phép chuyển nhượng hay không?

Về nguyên tắc: Đất chưa có GCN QSDĐ thì không đủ điều kiện để chuyển nhượng, việc chuyển nhượng giấy tay sau ngày 1/7/2004 sẽ không được nhà nước công nhận.

Theo thực tế: người được hưởng suất tái định cư vẫn chuyển nhượng bằng hình thức làm hợp đồng ủy quyền( có nghĩa là ủy quyền cho người mua đất toàn quyền sử dụng, làm sổ, cấp sổ nhà, xây dựng, chuyển nhượng…). Khi có hợp đồng ủy quyền thì coi như người đó có toàn quyền sử dụng. Tuy nhiên, cho đến khi nhà nước thực hiện việc cấp GCN QSDD cho lô đất đó thì người ủy quyền lại không được quyền đứng tên trên GCN QSDĐ.

Quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất (QSDĐ) phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ; góp vốn bằng QSDĐ khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận,…”. Ngoài ra, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ, QSDĐ và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”.

Như vậy, khi thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ thì điều kiện tiên quyết là người chuyển nhượng QSDĐ phải có giấy chứng nhận và các bên phải thực hiện thông qua hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đất phải lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Chuyển nhượng đất tái định cư là đất ở

Thực trạng chuyển nhượng xuất tái định cư là đất ở?

Nhu cầu chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng đã thôi thúc các bên tạo ra giao dịch đường vòng, phổ biến nhất hiện nay là các bên lập hợp đồng ủy quyền (HĐUQ) để che giấu việc chuyển nhượng STĐC là đất ở. Theo đó, các bên sẽ thực hiện giao kết thông qua hai hợp đồng, gồm: hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và HĐUQ. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cũng có các nội dung đúng theo quy định pháp luật như: tên, địa chỉ của các bên; quyền, nghĩa vụ của các bên; loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất; thời hạn sử dụng đất của bên chuyển nhượng; thời hạn sử dụng đất còn lại của bên nhận chuyển nhượng; giá chuyển nhượng; phương thức, thời hạn thanh toán; quyền của người thứ ba đối với đất chuyển nhượng; các thông tin khác liên quan đến QSDĐ; trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng và có đầy đủ chữ ký của các bên. Tuy nhiên, hợp đồng này sẽ để trống các nội dung như số thửa, tờ bản đồ, số giấy, số vào sổ, ngày cấp, nơi cấp của giấy chứng nhận (do chưa có)

Những rủi ro khi chuyển nhượng suất tái định cư chưa có Giấy chứng nhận

Chính vì hành động luồn lách pháp luật, mặt khác là lợi dụng kẽ hở của luật. Đất TĐC chưa có GCN QSDĐ vẫn thực hiện giao dịch mua bán. Bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán tiền theo thỏa thuận, nhận suất TĐC và toàn bộ các giấy tờ bản chính có liên quan đến suất TĐC kèm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và HĐUQ, còn bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận. Tuy nhiên vẫn có rất nhiều rủi ro có thể gặp phải cho cả hai bên trong giao dịch.

Trên đây là nội dung tư vấn về việc “chuyển nhượng đất tái định cư là đất ở” Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc,  hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 1900 63 63 87 để được luật sư Tư vấn luật đất đai chi tiết nhất. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

4.56 (15 bình chọn)

Bài viết được thực hiện bởi Lê Minh Phúc - Chuyên Viên Pháp Lý

Chức vụ: Chuyên viên pháp lý

Lĩnh vực tư vấn: Thừa Kế, Dân Sự, Đất Đai

Trình độ đào tạo: Đại học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 3 năm

Tổng số bài viết: 445 bài viết

24 thoughts on “SUẤT TÁI ĐỊNH CƯ LÀ ĐẤT Ở CÓ ĐƯỢC PHÉP CHUYỂN NHƯỢNG KHÔNG?

  1. đặng tiến đạt says:

    Tôi muốn hỏi trong trường hợp sau: bên bán là 2 vợ chồng được cấp 100m đất tái định cư thuộc dạng đất ở nông thôn, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất năm 2011. Họ sử dụng 30m và muốn bán lại 70m.
    Tôi muốn hỏi trường hợp như vậy tôi có thể mua được không? Có phải tách sổ không? Thủ tục cụ thể như thế nào?
    Rất mong sự tư vấn của Luật sư. Xin cảm ơn!

    • Châu Dàng says:

      Chào Đặng Tiến Đạt,
      Rất cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu trả lời đến chuyentuvanluat.com.
      Đối với vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:
      Đối với 100 m2 đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên hai vợ chồng nọ có quyền chuyển nhượng lại đối với phần diện tích trên.
      Tuy nhiên, trong trường hợp vợ chồng này muốn chuyển nhượng 70m2, chỉ giữ lại 30m2 thì cần phải căn cứ quy định của UBND tỉnh, thành phố nơi họ có đất để xem diện tích đất ở nông thôn tối thiểu để được tách thửa là bao nhiêu?
      Khi vợ chồng này chuyển nhượng 70m2 đất thì họ chỉ còn 30m2, nếu 30m2 này không đủ diện tích tối thiểu được quy định thì không được tách thửa. Lúc này, hai bên buộc phải sử dụng chung một giấy chứng nhận. Tuy nhiên, trên giấy chứng nhận sẽ xác định rõ phần nào là của cặp vợ chồng, phần nào là của người mới mua.
      Trong trường hợp bạn cần tư vấn thêm hoặc có nhu cầu thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, vui lòng để lại số điện thoại tại đây hoặc gọi trực tiếp đến hotline 1900 63 63 87 để được hỗ trợ.
      Trân trọng!

    • Huong says:

      Xin chào luật sư.cho tôi hỏi tôi được nhà nước cấp cho một nền tái định cư.mà 2017 tôi bán cho anh b.như đến 2018 a b bán lại cho anh c rồi năn nỉ tôi kêu tôi phải ra công chứng quỹ quyền lại cho anh c.giờ tôi ko muốn quỹ quyền cho a c nữa tôi muốn lấy lại nền thì có

      được ko.xin cho tôi được biết rõ.xin cảm ơn ạ.

      • Phan Mạnh Thăng says:

        Chào bạn Hương! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Đối với vấn đề của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:
        Suất tái định cư tên ai thì người đó nhận. Quy định của pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:
        Khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất (QSDĐ) phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ; góp vốn bằng QSDĐ khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận,…”. Ngoài ra, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ, QSDĐ và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”.

        Như vậy, khi thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ thì điều kiện tiên quyết là người chuyển nhượng QSDĐ phải có giấy chứng nhận và các bên phải thực hiện thông qua hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đất phải lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Còn về quy định pháp luật, nếu có tranh chấp thì bên bị xâm phạm quyền và lợi ích có quyền khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết.
        Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi. Trường hợp bạn cần được hỗ trợ thêm bất cứ thông tin pháp lý gì, hãy liên hệ hotline 1900 63 63 87 để được tư vấn chi tiết. Trân trọng!

    • Lê Mộng Kiều says:

      Tôi tên Lê Mộng Kiều năm 2011 vợ chồng tôi có làm giấy tay bán phần đất tái định cư ( chưa có đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa nhận nền) đến nay tôi không muốn bán. Vậy tôi lấy lại đất và hoàn trả tiền goc cho bên mua và lãi suất theo giá ngân hàng có dc kg? Cho tôi xin y kiến tôi thành thật biết ơn .

      • Triệu Hiếu Khánh says:

        Chào bạn,
        Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyentuvanluat.com
        Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:
        Theo quy định của Luật đất đai 2003, người sử dụng đất được thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất khi có giấy chứng nhận. Hợp đồng giao dịch quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực. Như vậy, việc bạn chuyển nhượng đất khi không có giấy chứng nhận và việc chuyển nhượng chỉ được lập giấy tay là không đúng quy định. Bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu. Khi hợp đồng vô hiệu thì người kia sẽ trả lại đất cho bạn, đồng thời bạn sẽ trả lại tiền cho người kia. Bên có lỗi gây ra hợp đồng vô hiệu sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia (trường hợp có thiệt hại xảy ra).
        Bạn vui lòng liên hệ Hotline 1900 63 63 87 để được tư vấn và hỗ trợ về việc khởi kiện.
        Trân trọng cảm ơn bạn.

        • Khách says:

          Thưa luật sư, tôi có thấy bài đăng năm 2019 nhưng luật sư lại tư vấn sử dụng Luật đất đai 2003, trong khi ta phải áp dụng Luật đất đai 2013 ạ

    • Huong says:

      Xin chào luật sư.cho tôi hỏi tôi được nhà nước cấp cho một nền tái định cư.mà 2017 tôi bán cho anh b.như đến 2018 a b bán lại cho anh c rồi năn nỉ tôi kêu tôi phải ra công chứng quỹ quyền lại cho anh c.giờ tôi ko muốn quỹ quyền cho a c nữa tôi muốn lấy lại nền thì có

      được ko.xin cho tôi được biết rõ.xin cảm ơn ạ.

  2. ngọc hùng says:

    Chào Luật sư. Năm 2003 tôi mua 01 suất tái định cư bằng giấy viết tay, (có Biên bản giao đất tái định cư), đất chưa được cấp sổ đỏ, nay người bán suất tái định cư đã đi khỏi địa phương và không thể liên lạc được. Xin cho tôi biết tôi có được kê khai để cấp sổ đỏ lô đất đó không? thủ tục để được cấp sổ đỏ suất tái định cư đã mua, tôi xin cảm ơn.

    • Triệu Hiếu Khánh says:

      chào bạn ngọc hùng vấn đề của bạn chuyentuvanluat.com xin trả lời như sau:
      Việc chuyển nhượng đất phải có sổ đỏ và các bên thực hiện công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. trường hợp của bạn chuyển nhượng suất TĐC bằng giấy tay trước năm 2004 thì được nhà nước công nhận, tuy nhiên việc chuyển nhượng đất khi chưa có sổ đỏ là không đủ điều kiện chuyển nhượng. cho nên hợp đồng mua bán đất của bạn là vô hiệu. Theo đó khi hợp đồng vô hiệu các bên sẽ hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu.
      Cùng với đó, suất tái định cư được nhà nước cấp cho người được hưởng suất tái định cư nên việc cấp sổ đỏ phải do người sở hữu suất tái định cư tiến hành thủ tục cấp sổ đỏ. Cho nên dù bạn có hợp đồng mua bán bằng giấy tay cũng không được kê khai cấp sổ đỏ cho lô đất, xác lập sở hữu đối với suất tái định cư.
      Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, mọi thắc mắc vui lòng liên hệ hotline 1900 63 63 87 để được hỗ trợ. Xin cảm ơn./

  3. Vinh says:

    xin chào luật sư
    Tôi có 1 căn nhà cấp 4 thuộc diện tái định cư nằm ở trung tâm thành phố vĩnh long, và đã sử dụng 7 năm, tôi đã đóng đủ tiền đất và tiền vay cho nhà nước, nhưng chưa cấp sổ đỏ, bên nhà nước đang hẹn tôi để lấy giấy tờ và xong nộp lại bên quản lý chờ cấp sổ đỏ, hỏi khi chưa đủ 10 năm tôi có bán được không

    • Phan Mạnh Thăng says:

      Xin chào bạn Vinh, vấn đề của bạn chuyentuvanluat.com xin được tư vấn như sau:
      Khi bạn muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bạn phải có đủ điều kiện để chuyển nhượng
      trong đó điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 188 Luật Đất đai 2013 bao gồm:
      a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
      b) Đất không có tranh chấp;
      c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
      d) Trong thời hạn sử dụng đất.
      Do đó khi bạn muốn chuyển nhượng phần đất trên thì bạn phải đảm bảo các điều kiện trên.
      Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu bạn cần bất cứ sự hỗ trợ nào vui lòng liên hệ hotline 1900 63 63 87 (ls Phan Mạnh Thăng). Xin cảm ơn./.

  4. Bích Ngọc says:

    Chào Luật sư! Tôi muốn mua nhà đất tái định cư đã có sổ đỏ nhưng còn 4 năm nữa mới được sang tên. Vậy khi mua tôi làm hợp đồng chuyển nhượng có công chứng với bên bán đc ko? hay làm hợp đồng uỷ quyền vậy thưa luật sư? Nếu hợp đồng uỷ quyền thì 4 năm nữa nếu bên bán đổi ý ko ký sang tên thì ngoài trả về hiện trạng ban đầu bên bán có bồi thường thiệt hại ko ạ?

    • Phan Mạnh Thăng says:

      Chào bạn Ngọc! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Đối với trường hợp của bạn, Chuyentuvanluat xin được tư vấn như sau: Bạn nên tiến hành lập Hợp đồng chuyển nhượng có Công chứng chứng thực đầy đủ theo đúng quy định pháp luật để sau này tiến hành sang tên đổi chủ cho đảm bảo về mặt pháp lý tránh các tranh chấp phát sinh về sau. Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi. Trường hợp bạn còn bất cứ thắc mắc hoặc hỗ trợ về pháp lý, hãy liên hệ Hotline 1900 63 63 87 để được tư vấn kịp thời. Trân trọng!

  5. Lữ Thị Cẩm Ngân says:

    Tôi có mua 1 nền đất trên khu dân cư. Nền này cách đây 10 năm là đất tái định cư. Người chủ đầu tiên bán cho ông A rồi ông A bán cho ông B, ông B bán cho ông C và ông C bán lai cho tôi. Tất cả đều có giây CNQSDĐ. Nhưng hiện nay tôi mua lại ko được chuyển quyền sử dụng đất. Xin hỏi luật sư vấn đề này như thế nào. Theo thông tin theo qđ 319/QĐ TTg năm 2020 nên bắt người dân phải chờ.

    • Phan Mạnh Thăng says:

      Chào bạn Cẩm Ngân! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Đối với vấn đề của bạn, chuyentuvanluat.com xin được tư vấn như sau: điều kiện được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai 2013 thì 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
      a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
      b) Đất không có tranh chấp;
      c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
      d) Trong thời hạn sử dụng đất.
      Khi đáp ứng các điều kiện trên thì người sử dụng đất được phép thực hiện các quyền sử dụng đất của mình.
      Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn sơ bộ của chúng tôi dựa trên thông tin bạn đã cung cấp. Để cụ thể, chi tiết và thực hiện được tốt, bạn nên sắp xếp thời gian đến trực tiếp để nghe luật sư trao đổi, giải thích, hướng dẫn qua địa chỉ: CÔNG TY LUẬT LONG PHAN PMT
      – Trụ sở chính: 50/6 Trường Sơn, phường 2, quận Tân Bình, Tp.HCM
      – Cơ sở 02: Căn hộ Officetel 3.34, Tầng 3, Lô OT-X2, toà nhà Sunrise City North, 27 Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hưng, quận 7, Tp.HCM.
      Hotline: 1900.63.63.87
      Trân trọng!

    • Phan Mạnh Thăng says:

      Chào bạn Thiền! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho chúng tôi, đối với vấn đề của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau: Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
      1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
      a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
      b) Đất không có tranh chấp;
      c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
      d) Trong thời hạn sử dụng đất.
      2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.
      3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
      Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn sơ bộ của chúng tôi dựa trên thông tin bạn đã cung cấp. Để cụ thể, chi tiết và thực hiện được tốt, bạn nên sắp xếp thời gian đến trực tiếp để nghe luật sư trao đổi, giải thích, hướng dẫn qua địa chỉ: CÔNG TY LUẬT LONG PHAN PMT
      – Trụ sở chính: 50/6 Trường Sơn, phường 2, quận Tân Bình, Tp.HCM
      – Cơ sở 02: Căn hộ Officetel 3.34, Tầng 3, Lô OT-X2, toà nhà Sunrise City North, 27 Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hưng, quận 7, Tp.HCM.
      Hotline: 1900.63.63.87
      Trân trọng!

  6. Thủy phạm says:

    Chào luật sư ! Tôi có nên mua nền tái định cư có sổ đỏ rồi, nhưng còn 5 năm nữa mới được sang tên. Thủ tục là gì và có rủi ro ko a. Nếu tôi giữ sổ đỏ của bên bán kèm hợp đồng chuyển nhượng thì sau này tôi có thể tự sang tên mà bên bán không có mặt không a?

    • Phan Mạnh Thăng says:

      Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Đối với vấn đề của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:
      Đối với nhà ở xã hội, pháp luật quy định Bên mua, bên thuê mua nhà ở xã hội được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho các đối tượng có nhu cầu sau thời hạn 05 năm, kể từ khi đã thanh toán hết tiền mua, tiền thuê mua nhà ở và đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ và nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật thuế; trường hợp bán cho đối tượng thuộc diện được mua nhà ở xã hội quy định tại Luật này thì chỉ được bán với giá tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

      Đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư mà thuê mua, mua nhà ở xã hội thì được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho các đối tượng có nhu cầu sau khi đã thanh toán hết tiền mua, tiền thuê mua nhà ở và được cấp Giấy chứng nhận nhưng phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo quy định của Chính phủ và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật thuế.
      Hiện nay các giao dich mua bán nhà ở xã hội thông qua hợp đồng ủy quyền diễn ra khá phổ biến. Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro: Nếu bị cơ quan nhà nước thu hồi do vi phạm quy định về việc mua bán nhà ở xã hội thì việc đòi hỏi quyền lợi ở đây là rất khó khăn bởi bên mua không phải là chủ sở hữu, đặc biệt là trường hợp bên bán nhà không hợp tác và việc mua bán nhà là bất hợp pháp.

      Một vấn đề pháp lý nữa đặt ra đối với hợp đồng ủy quyền là người ủy quyền là người uy quyền chết. Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật dân sự 2015 thì khi người ủy quyền chết thì hợp đồng ủy quyền chấm dứt, và khi chấm dứt đương nhiên người mua thực tế sẽ không được thực hiện các quyền trong hợp đồng ủy quyền nữa, điều này rất dễ tranh chấp với đồng thừa kế của người bán thực tế. Như vậy, người mua nhà ở xã hội thông qua bản hợp đồng ủy quyền có thê chịu nhiều rủi ro thậm chí là mất trắng.
      Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn sơ bộ của chúng tôi dựa trên thông tin bạn đã cung cấp. Để cụ thể, chi tiết và thực hiện được tốt, bạn nên sắp xếp thời gian đến trực tiếp để nghe luật sư trao đổi, giải thích, hướng dẫn qua địa chỉ: CÔNG TY LUẬT LONG PHAN PMT
      – Trụ sở chính: 50/6 Trường Sơn, phường 2, quận Tân Bình, Tp.HCM
      – Cơ sở 02: Căn hộ Officetel 3.34, Tầng 3, Lô OT-X2, toà nhà Sunrise City North, 27 Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hưng, quận 7, Tp.HCM.
      Hotline: 1900.63.63.87
      Trân trọng!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.