Luật Hình Sự

Khi nào được phép bắt giữ người vào ban đêm?

Bắt giữ người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã, phạm tội quả tang nhằm mục đích ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Việc bắt người được quy định tại Khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Theo dõi bài viết dưới đây để nắm được các trường hợp được phép bắt người vào ban đêm, trình tự thủ tục thực hiện.

 

Bắt người theo pháp luậtBắt người theo pháp luật

Các trường hợp được phép bắt người

Bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp

Theo quy định của Điều 110 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì các trường hợp được giữ người khẩn cấp như sau:

  • Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trong, đặc biệt nghiêm trọng.
  • Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
  • Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp như sau:

Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp thuộc về: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp, một số người có thẩm quyền trong quân đội, Bộ đội biên phòng, Lực lượng cảnh sát biển, Kiểm ngư, Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

Bắt người phạm tội quả tang

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về trường hợp bắt người phạm tội quả tang như sau:

  • Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
  • Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
  • Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Bắt người đang bị truy nã

Theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về trường hợp bắt người đang bị truy nã như sau:

  • Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
  • Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
  • Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Theo quy định tại Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam như sau:

Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
  • Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
  • Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.

Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Bắt người bị yêu cầu dẫn độ

Theo quy định tại Điều 503 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về trường hợp bắt người bị yêu cầu dẫn độ như sau:

  • Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật này.
  • Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.
  • Trường hợp cần thiết, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp cao có thể gửi văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra lệnh, quyết định tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an.

Các trường hợp công an được bắt người vào ban đêm

Bắt người vào ban đêmBắt người vào ban đêm

Theo quy định Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Như vậy, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người người đang bị truy nã, mọi hành vi bắt người vào ban đêm khác đều được coi là trái luật và người bị bắt có quyền yêu cầu khiếu nại, bồi thường thiệt hại.

Trình tự, thủ tục bắt người vào ban đêm

Theo quy định tại Điều 111, 112 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về trình tự thủ tục bắt người vào ban đêm (hay có thể nói là trình tự, thủ tục bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã) như sau:

Trước hết, khi bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Luật sư tư vấn giải quyết khi công an bắt giữ người trái pháp luật

Luật sư tư vấn giải quyết khi công an bắt người trái phép

Luật sư tư vấn giải quyết khi công an bắt người trái phép

  • Luật sư tư vấn, giải quyết các thắc mắc liên quan đến việc bắt giữ người.
  • Luật sư tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ, đưa ra phương án khi có hành vi bắt người không đúng với quy định pháp luật.
  • Luật sư bào chữa cho người bị bắt giữ, xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Luật sư tham gia tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội.

Như vậy, không phải mọi trường hợp cơ quan có thẩm quyền đều được phép ra lệnh bắt giữ người vào ban đêm. Việc bắt giữ người phải thực hiện theo đúng quy trình. Trên đây là toàn bộ nội dung về việc khi nào công an được phép bắt giữ người vào ban đêm cũng như những quy định cụ thể về các trường hợp bắt giữ người theo đúng quy định pháp luật. Mọi thắc mắc hoặc cần tư vấn về những vấn đề liên quan vui lòng liên hệ hotline: 1900636387 để được luật sư tư vấn trực tiếp.

5 (14 bình chọn)

Bài viết được Tham vấn bởi Luật sư: Võ Tấn Lộc - Tác giả: Vũ Thị Hải Yến
Tham vấn bởi Luật sư: Võ Tấn Lộc - Tác giả: Vũ Thị Hải Yến

Tác giả: Chuyên Viên Pháp Lý - Vũ Thị Hải Yến

Lĩnh vực tư vấn: hành chính, dân sự, đất đai, di chúc, thừa kế.

Trình độ đào tạo: Trường Đại học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 2 năm

Tổng số bài viết: 898 bài viết