VẤN ĐỀ XEM XÉT, THẨM ĐỊNH TẠI CHỖ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

19 /122017

VẤN ĐỀ XEM XÉT, THẨM ĐỊNH TẠI CHỖ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

Bộ luật tố tụng dân sự quy định để giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán có thể tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ nhằm thu thập chứng cứ. Việc xem xét thẩm định tại chỗ phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.

1. Thẩm quyền xem xét, thẩm định tại chỗ.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015), về xem xét, thẩm định tại chỗ như sau: “1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.”

Như vậy khi có yêu cầu của đương sự có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ hoặc khi xét thấy cần thiết Thẩm phán sẽ là ngừoi có thẩm quyền quyết định xem xét thẩm định tại chỗ dưới sự có mặt của đại diện UBND cấp xã, hoặc Công an xã, phường. Có một số bất cập như khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vấn đề đặt ra, cụm từ khi “xét thấy cần thiết” được hiểu như thế nào cho đúng? Khi nào, trong những trường hợp nào là thấy cần thiết? Theo quy định tại khoản 2 Điều 156 BLTTDS năm 2015: “Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.”. Nếu theo quy định này, sự “xét thấy cần thiết” xem xét, thẩm định tại chỗ có thể chỉ được thực hiện tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Vậy tại sao quá trình giải quyết án, Tòa án có thẩm quyền không “xét thấy cần thiết” và quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm?

2. Quy trình xem xét thẩm định tại chỗ.

Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về trình tự, quy trình xem xét thẩm định tại chỗ theo Bộ luật tố tụng 2015. Các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thực hiện việc xem thẩm định tại chỗ theo Nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng 2005 dân sự về "Chứng minh và chứng cứ".

Khi đương sự có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và xét thấy có căn cứ, thì Thẩm phán ra quyết định tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Toà án ra quyết định;

b) Đối tượng và những vấn đề cần xem xét, thẩm định tại chỗ;

c) Thời gian, địa điểm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ.

Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo văn bản đề nghị Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Vào ngày, giờ đã định trong quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu chưa có đại diện của Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức, thì Thẩm phán phải liên hệ để họ có mặt. Trong trường hợp vắng mặt đại diện của Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức, thì thẩm phán hoãn việc xem xét, thẩm định tại chỗ.

Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được giao hoặc gửi cho đương sự để họ biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên, nếu có đương sự vắng mặt thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn được tiến hành theo thủ tục chung.

Nếu có người nào cản trở Toà án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, thì Thẩm phán yêu cầu đại diện Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Trong trường hợp cần thiết Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10-9-2003 của Bộ Công an "Hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân". Thẩm phán phải lập biên bản về việc đương sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ và lưu vào hồ sơ vụ án.

Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Toà án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ. Biên bản phải làm đúng quy định tại khoản 2 Điều 89 của BLTTDS.

3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền mà Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ căn cứ vào quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định như sau:

Người yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của Tòa án. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ(Điều 155; 156 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được xác định như sau:

Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

Như vậy người có yêu cầu thực hiện các công việc tố tụng cần có chi phí thì phải có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nếu không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng thì coi như từ bỏ yêu cầu; trách nhiệm của nguyên đơn, người phản tố, người có yêu cầu độc lập theo quy định của pháp luật phải nộp tạm ứng chi phí tố tụng; nếu không nộp thì coi như họ từ bỏ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Không chỉ khoản 1 Điều 156, mà cả khoản 1 Điều 165 BLTTDS năm 2015, đều chỉ dừng lại với quy định: Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá, thẩm định giá nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Nghĩa là, yêu cầu của đương sự nếu không được Tòa án chấp nhận toàn bộ, thì đượng sự phải gánh chịu mọi chi phí tố tụng phát sinh (nếu có). Vấn đề đặt ra với trường hợp các bên đương sự không có thoả thuận về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá, thẩm định giá; pháp luật cũng không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá, thẩm định giá được xác định như thế nào, khi yêu cầu khởi kiện của đương sự được Tòa án chấp nhận một phần. Việc Tòa án không tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của mình, điều này đồng nghĩa với việc nguyên đơn (bên đã tạm ứng và thanh toán xong với Tòa án các khoản chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá) mặc nhiên phải gánh chịu. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, mà theo đó, nếu nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự. Để tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản pháp luật quy định trình tự, thủ tục thu chi và số tiền cụ thể cho mỗi lần xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản trong tố tụng dân sự.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.