TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

15 /022018

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu tiên của một vụ án. Sau khi hòa giải không thành hoặc đối với những vụ án mà pháp luật quy định không được phép hòa giải thì Tòa án ra quyết định xét xử và tiến hành phiên xét xử vụ án dân sự. Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải trải qua việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như: Hội đồng xét xử thực hiện việc xét xử thông qua việc nghe các bên trình bày, tranh luận tại phiên tòa, kiểm tra xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện, khách quan, áp dụng đúng pháp luật giải quyết vụ án.

Phiên toà sơ thẩm dân sự được tiến hành trong một thời điểm, thời gian nhất định. Tại phiên toà sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như thẩm phán, hội thẩm, thư ký toà án, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của đương sự v.v.. Hội đồng xét xử (HĐXX ) thực hiện việc xét xử qua việc nghe các bên đương sự trình bày, tranh luận; kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết vụ án. Khác với việc hoà giải vụ án, toà án chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản, ở phiên toà sơ thẩm, toà án phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án.

1. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm

Bước 1: Chuẩn bị khai mạc phiên Tòa

Theo quy định tại Điều 237 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS) thì trước khi tiến hành phiên tòa việc thực hiện các công việc trong bước chuẩn bị khai mạc phiên toà là nhiệm vụ của thư ký toà án, nhằm đảm bảo về an ninh trật tự, tuân thủ pháp luật và tôn nghiêm, có vai trò rất quan trọng góp phần củng cố thái độ tôn trọng pháp luật của những người tham gia tố tụng, tạo ra môi trường pháp lý nghiêm minh, thuận lợi cho việc xét xử được tiến hành sau này.trong phiên tòa như sau:

Người thực hiện: Thư ký phiên tòa

a. Phổ biến nội quy phiên tòa

b. Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do. Sự có mặt và vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên tòa được Thư ký báo cáo Hội đồng xét xử khi khai mạc phiên tòa, để Hội đồng xét xử xem xét vai trò của người vắng mặt để hoãn hoặc tiến hành phiên tòa xét sử vắng mặt đương sự

c. Ổn định trật tự trong phòng xử án.

d. Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án.

Bước 2: Bắt đầu phiên tòa

Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ Điều 239 đến Điều 246 BLTTDS, bao gồm các thủ tục sau:

- Khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đây là thủ tục bắt buộc.

- Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự. Khi có người vắng mặt mà thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa thì Tòa án hoãn phiên tòa, trường hợp không bắt buộc hoãn thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do.

- Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác như đề nghị thay đổi người tham gia tố tụng.

- Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch (nếu có). Việc chủ tọa phiên tòa giới thiệu về họ tên của những người tiến hành tố tụng nhằm để đương sự, người tham gia tố tụng thực hiện việc yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự nhằm bảo đảm việc xét xử phải được thực hiện bởi một hội đồng xét xử hợp pháp và kết quả xét xử phải khách quan, vô tư. Theo quy định tại Điều 52, 83 BLTTDS, trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tham gia tố tụng khác, người giám định, người phiên dịch thì hội đồng xét xử phải xem xét, nghe ý kiến của người bị thay đổi tại phiên tòa trước khi quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Trường hợp không chấp nhận thì hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do. Trong trường hợp phải thay đổi người tham gia tố tụng khác, người giám định, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Bước 3: Quy trình xét hỏi

Theo BLTTDS nhiệm vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ tọa hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không. Thủ tục hỏi được quy định tại Điều 243 đến Điều 231 BLTTDS, thủ tục hỏi được tiến hành theo trình tự như sau:

- Hỏi để xác định yêu cầu của đương sự, kể cả hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không; Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không; Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự chỉ được châp nhận khi việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

- Hỏi về việc tự hòa giải của các đương sự, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án. Việc xử lý vụ án sẽ nhanh gọn hơn nên việc hỏi các đương sự có thõa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

- Các đương sự tự trình bày.

- Hỏi để làm rõ nội dung vụ án

Bước 4: Tranh tụng tại phiên tòa

Thủ tục tranh tụng là hoạt động trung tâm của phiên tòa, qua đó có thể nắm bắt và xem xét toàn bộ tình tiết của vụ ăn, được quy định từ Điều 247 đến Điều BLTTDS. Cụ thể

Chủ tọa phiên tòa tiến hành điều khiển các đương sự đối đáp trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án. Phát biểu của các bên khi tranh luận là bình đẳng và thông qua đó các bên thể hiện quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, đánh giá yêu cầu, từ đó đưa ra phương án giải quyết vụ án. Đối với những vấn đề mà các bên còn có những ý kiến không thống nhất, trái ngược nhau thì họ có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác. Do đó, hoạt động tranh luận có thể diễn ra trong khoảng thời gian không xác định, việc kết thúc tranh luận phụ thuộc vào các chủ thể tham gia tranh luận, khi sự thật khách quan đã được xác định hoặc các bên chấp nhận.

Bước 5: Nghị án và Tuyên án

Nghị án là việc HĐXX xem xét, quyết định giải quyết vụ án. Sau khi kết thúc phần tranh luận, trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên toà, HĐXX vào phòng nghị án để thảo luận quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án. Chỉ có các thành viên của HĐXX mới có quyền nghị án. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của HĐXX. Việc nghị án được thực hiện theo quy định tại Điều 264 BLTTDS. Qua nghị án, trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì HĐXX có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không quá năm ngày làm việc kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên toà; nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.

Như vậy, về nguyên tắc việc nghị án là bí mật, là trường hợp đặc biệt của nguyên tắc xét xử công khai, được tiến hành tại phòng riêng và trong quá trình nghị án không ai được vào phòng nghị án. Quy định về nghị án đảm bảo cho việc nghị án được độc lập, khách quan, vô tư, công minh và không bị tác động từ các yếu tố ngoài lề.

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 267 BLTTDS thì thủ tục tuyên án được thực hiện như sau:

– Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của chủ toạ phiên toà. Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của HĐXX đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.

– Trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

Đây có thể được coi là thủ tục cuối cùng để kết thúc phiên toà sơ thẩm. Tóm lại, phiên toà sơ thẩm dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của Toà án. Sau khi Phiên toà sơ thẩm kết thúc, bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên sẽ chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn một thời hạn để các đương sự có thể kháng cáo, viện kiểm sát có thể kháng nghị. Nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm thì toà án cấp trên trực tiếp sẽ tiến hành xét xử lại vụ án.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.