TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHIÊN TÒA DÂN SỰ CẤP PHÚC THẨM

10 /032018

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHIÊN TÒA DÂN SỰ CẤP PHÚC THẨM

Xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những bản án hoặc xét lại các quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo kháng nghị. Theo đó Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong khi xét xử của tòa án cấp dưới mà còn kiểm tra tính đúng đắn, tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xác định rõ nội dung tranh chấp, sự việc liên quan, kiểm tra, xác minh chứng cứ có đầy đủ, chính xác không, thẩm tra xem pháp luật liên quan được áp dụng có đúng hay không. Khi tiến hành xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm không bị hạn chế hay ràng buộc bởi những nội dung kháng cáo, kháng nghị mà có thể kiểm tra những vấn đề khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị đối với tất cả các đương sự, kể cả những người không kháng cáo và không bị kháng nghị. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có thể sử dụng chứng cứ mới do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án hay Viện kiểm sát thu thập thêm. Tất cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới đều phải được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Và tương tự trình tự, thủ tục tiến hành phiên Tòa sơ thẩm, Phiên tòa phúc thẩm cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự và thủ tục tiến hành.

1. Chủ thể tham gia phiên tòa

Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm phần lớn cũng là những người đã tham gia phiên tòa sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 294 Bộ luật tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) thì người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa. Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp cũng phải tham gia phiên tòa phúc thẩm.

Chủ thể có thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại Điều 64 BLTTDS thì Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm vụ án dân sự thông thường gồm ba Thẩm phán, đây là chủ thể là chủ thể có chức năng, vai trò trực tiếp thực hiện việc xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Hội đông xét xử phúc thẩm có thẩm quyền ra các quyết định sau trong khi tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án dân sự:

  1. Sửa bản án sơ thẩm

Nếu qua việc xét xử phúc thẩm, HĐXX thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án không đúng pháp luật thì HĐXX có thể sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 309 BLTTDS thì việc sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm trong các trường hợp sau đây:

- Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự

- Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.

  1. Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 310 thì khi việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được; hay Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217 BLTTDS và trường hợp: Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật .

  1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm

Khi xét xử phúc thẩm HĐXX xem xét lại mọi vấn đề được kháng cáo, kháng nghị và các chứng cứ liên quan và kết luận bản án sơ thẩm đã tuân thủ đúng pháp luật, việc ra bản án là có căn cứ thì ra quyêt định giữ nguyên bản án sơ thẩm

  1. Tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý mà có các căn cứ cho thấy không thể xét xử phúc thẩm vụ án được thì tùy từng trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định tại Điều 288, Điều 289 BLTTDS.

2. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa

Bước 1: Thủ tục bắt đầu phiên Tòa phúc thẩm

a. Khai mạc phiên tòa

Theo quy định tại Điều 237 BLTTDS thì trước khi tiến hành phiên tòa việc thực hiện các công việc trong bước chuẩn bị khai mạc phiên toà là nhiệm vụ của thư ký toà án, nhằm đảm bảo về an ninh trật tự, tuân thủ pháp luật và tôn nghiêm, có vai trò rất quan trọng góp phần củng cố thái độ tôn trọng pháp luật của những người tham gia tố tụng, tạo ra môi trường pháp lý nghiêm minh, thuận lợi cho việc xét xử được tiến hành sau này trong phiên tòa; Đồng thời đây là thủ tục bắt buộc đảm bỏa cho phiên Tòa diễn ra có sự tham dự đầy đủ của những người tham gia tố tụng, kiểm tra lại xem có trường hợp nào phải hoãn phiên tòa không, cần tiến hành các công việc như sau:

Thư ký phiên tòa thực hiện các công việc:

- Phổ biến nội quy phiên tòa

- Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do. Sự có mặt và vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên tòa được Thư ký báo cáo Hội đồng xét xử khi khai mạc phiên tòa, để Hội đồng xét xử xem xét vai trò của người vắng mặt để hoãn hoặc tiến hành phiên tòa xét sử vắng mặt đương sự

- Ổn định trật tự trong phòng xử án.

- Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án.

Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ Điều 239 đến Điều 246 BLTTDS, bao gồm các thủ tục sau:

- Khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.đây là thủ tục bắt buộc.

- Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự. Khi có người vắng mặt mà thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa thì Tòa án hoãn phiên tòa, trường hợp không bắt buộc hoãn thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do.

- Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác như đề nghị thay đổi người tham gia tố tụng.

- Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch (nếu có). Việc chủ tọa phiên tòa giới thiệu về họ tên của những người tiến hành tố tụng nhằm để đương sự, người tham gia tố tụng thực hiện việc yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự nhằm bảo đảm việc xét xử phải được thực hiện bởi một hội đồng xét xử hợp pháp và kết quả xét xử phải khách quan, vô tư. Theo quy định tại Điều 52, 83 BLTTDS, trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tham gia tố tụng khác, người giám định, người phiên dịch thì hội đồng xét xử phải xem xét, nghe ý kiến của người bị thay đổi tại phiên tòa trước khi quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Trường hợp không chấp nhận thì hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do. Trong trường hợp phải thay đổi người tham gia tố tụng khác, người giám định, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

b. Thủ tục hỏi đương sự về việc kháng cáo, kháng nghị và xử lý việc thay đổi kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa

Theo quy định tại Điều 298 BLTTDS thì: Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm có nghĩa vụ công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị cho những người tham gia phiên tòa biết.

Đồng thời để tôn trọng ý chí của người kháng cáo, kháng nghị nên trước khi bắt đầu phiên tòa Chủ tọa phiên tòa hỏi về các vấn đề có rút đơn khởi kiện hay không đối với nguyên đơn, còn đối với người kháng cáo, Kiểm sát viên thì hỏi về việc có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng ngh�� hay không

c. Hỏi đương sự về việc các đương sự có thỏa thuận được với nhau không

Căn cứ Điều 300 BLTTDS thì để có thể đơn giản việc giải quyết vụ án, tiết kiệm chi phí và công sức, bên cạnh đó còn giải quyết vụ án một cách nhanh chóng HĐXX sẽ hỏi và xem xét việc các đương sự có thỏa thuận được với nhau một cách tự nguyện hay không? Nếu sự thỏa thuận đó là được thì tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Bước 2: Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm

Các quy định về tranh luận tại phiên Tòa phúc thẩm được thực hiện như tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong việc hỏi, tranh luận mà không bị giới hạn về thời gian. Các đương sự được quyền tự định đoạt, phát huy triệt để nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và lập luận cho các chứng cứ trước Tòa để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp.

Bên cạnh đó, tranh luận tại phiên tòa nhằm làm sáng tỏ các sự kiện, các chứng cứ và các lý lẽ lập luận cho các chứng cứ nên tập trung vào các nội dung sau: trước hết phân tích, lập luận để bảo vệ các chứng cứ của phía bên kia và chỉ rõ việc áp dụng quy phạm pháp luật nội dung nào để giải quyết vụ án. Sau đó, đề xuất quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án, các quy định của pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án, với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dã được xem xét, tranh luân cong khai tại phiên tòa. Pháp luật tố tụng dân sự quy định thủ tục tranh luận tại phiên tòa là nhằm tạo điều kiện tối đa về thời cơ để các bên đương sự tự chứng minh cho các yêu cầu của họ bằng các chứng cứ, lý lẽ mà họ phân tích, đánh giá công khai ngay tại phiên tòa. Vai trò chủ động của cá nhân đương sự trong tranh luận được xem là yếu tố quyết định trong việc chứng minh, tự chứng minh cho các yêu cầu kiện tụng mà họ nêu ra và họ cho rằn yêu cầu, lý lẽ đó là đúng đắn.

a. Trình bày của đương sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 302 BLTTDS thì: Trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì việc trình bày tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.

Trường hợp tất cả đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn kháng cáo và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;

Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo và đề nghị của mình.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.

b. Tranh luận tại phiên tòa

Phạm vi được tranh luận: những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.

Đối tượng được tham gia tranh tụng: đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 305 BLTTDS thì khi tranh luận đối với kháng cáo những người tham gia phải tuân theo trình tự luật định như sau:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;

- Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 305 BLTTDS thì khi tranh luận đối với kháng nghị những người tham gia phải tuân theo trình tự luật định như sau:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ của kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu.

c. Phát biểu của Kiểm sát viên

Kiểm sát viên có vai trò giám sát tính tuân thủ pháp luật của phiên tòa nên sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm theo quy định tại Điều 306 BLTTDS.

Bước 3: Nghị án và tuyên án

Nghị án là việc HĐXX xem xét, quyết định giải quyết vụ án. Sau khi kết thúc phần tranh luận, trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên toà, HĐXX vào phòng nghị án để thảo luận quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án. Chỉ có các thành viên của HĐXX mới có quyền nghị án. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của HĐXX. Việc nghị án được thực hiện theo quy định tại Điều 264 BLTTDS. Qua nghị án, trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì HĐXX có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không quá năm ngày làm việc kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên toà; nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.

Như vậy, về nguyên tắc việc nghị án là bí mật, là trường hợp đặc biệt của nguyên tắc xét xử công khai, được tiến hành tại phòng riêng và trong quá trình nghị án không ai được vào phòng nghị án. Quy định về nghị án đảm bảo cho việc nghị án được độc lập, khách quan, vô tư, công minh và không bị tác động từ các yếu tố ngoài lề.

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 267 BLTTDS thì thủ tục tuyên án được thực hiện như sau:

– Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của chủ toạ phiên toà. Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của HĐXX đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.

– Trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

Đây có thể được coi là thủ tục cuối cùng để kết thúc phiên toà sơ thẩm. Tóm lại, qua phúc thẩm có thể khắc phục được những sai lầm trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị; Đảm bảo cho quyền, lợi ích của các cá nhân, cơ qua, tổ chức và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới; có thể chỉ đạo một cách thống nhất, kịp thời việc áp dụng pháp luật trong các hoạt động xét xử tại các Tòa án ở địa phương.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.