Trước tác động của đại dịch Covid-19, trách nhiệm của Doanh nghiệp xã hội (DNXH) trong phát triển sản phẩm y tế phòng chống dịch là vấn đề được nhiều người quan tâm. Trong khi đó, DNXH là mô hình đang ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam với khung pháp lý tương đối rõ ràng. Tuy nhiên các quy định về đấu thầu, ưu đãi kinh doanh sản phẩm y tế hiện nay chưa đủ để kêu gọi khối doanh nghiệp này tham gia. Phạm vi bài viết sẽ thảo luận về nguồn lực của DNXH, quy định về đấu thầu, ưu đãi trong hoạt động kinh doanh sản phẩm y tế từ đó nêu hạn chế còn tồn đọng.

Trách nhiệm của DNXH trong lĩnh vực y tế

>>> Xem thêm: Từ sự cố của tay vợt Djokovic – Bàn về quyền con người trong mùa dịch Covid-19

Nguồn lực của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp (LDN) 2020 với các tiêu chí là:

  • Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng
  • Sử dụng từ 51% lợi nhuận để tái đầu tư vào mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường đã đăng ký.

Bên cạnh đó, LDN 2020 tạo hành lang pháp lý cho phép việc DNXH được nhận ưu đãi, hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài chính phủ, tổ chức phi chính phủ (non – governmental organization). Điều 7 Nghị định 47/2021/NĐ-CP (Nghị định 47) làm rõ việc được nhận tài trợ, hỗ trợ và thủ tục tiếp nhận của DNXH.

Thực tế cho thấy, thế mạnh lớn nhất của mô hình DNXH là tôn chỉ, mục đích hoạt động vì cộng đồng và cam kết tái đầu tư vào xã hội. Trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài thì xã hội rất cần những tổ chức có mục tiêu, hệ thống bài bản và nguồn lực để gia cố sức chống chọi, cũng như giúp Chính phủ giảm các chi phí trong việc hỗ trợ từng địa phương đơn lẻ.

Vậy, với một hàng lang pháp lý tương đối khái quát để nhận hỗ trợ, tiềm năng của DNXH trong việc tham gia cung cấp các sản phẩm y tế phòng chống dịch bệnh Covid 19 hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy sự vênh giữa luật và thực tiễn tình hình của DNXH hiện nay:

DNXH chưa có nguồn lực

Cần thấy là DNXH có lợi thế rất lớn trong việc huy động nhân lực hỗ trợ. Bởi lẽ mục đích của các DN này xuất phát từ chính nhu cầu của xã hội. Vì vậy về mặt con người,  DNXH có lẽ dễ dàng huy động – đây là thế mạnh rất lớn trong bối cảnh đại dịch diễn ra mức độ khác nhau giữa các địa phương. Thay vì Nhà nước phải cung cấp một số lượng lớn trang thiết bị, vật tư y tế và nhân lực cho các dịch vụ y tế cộng đồng (tư vấn, chăm sóc) thì có thể chuyển giao cho các tổ chức xã hội ở địa phương thực hiện. Việc này giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả.

Nhiều tổ chức xã hội không mặn mà với việc chuyển đổi thành DNXH theo Luật Doanh nghiệp

Thực tế các dự án hỗ trợ y tế hoạt động sôi nổi ở nhiều địa phương (ví dụ dự án StaystrongVietNam – hỗ trợ đồ bảo hộ y tế ở các BV tại Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương và Trà Vinh; dự án Hỗ trợ người khuyết tật tại Cần Thơ). Tuy nhiên, các hoạt động này thường do các tổ chức cộng động tự nguyện đứng ra thực hiện.

Cần thấy rằng các tổ chức này có đầy đủ tiêu chí để trở thành DNXH, nhưng họ lại lựa chọn hoạt động với hình thức tổ chức/ hội nhóm tự phát – vốn thuộc điều chỉnh của pháp luật về Hội thay vì LDN [1].

Về pháp lý, DNXH cũng là DN theo LDN. Tức phải thực hiện đăng ký doanh nghiệp, cấp phép kinh doanh, có trụ sở,.. để có thể tiếp cận các ưu đãi cho DNXH theo LDN 2020 và Nghị định 47.

Như vậy, nguồn lực của DNXH được pháp luật công nhận nhưng chưa được tận dụng hiệu quả. Đại dịch Covid 19 càng cho thấy các tổ chức cộng đồng và chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực y tế [2]. có tầm quan trọng rất lớn để đảm bảo người dân có thể tiếp cận được các sản phẩm y tế.

Chưa có cơ sở pháp lý để phân định mô hình DNXH

Qua thực tế hoạt động, có thể thấy tiêu chí xác định DNXH theo điều 10 LDN 2020 chưa đủ. Dù điểm mấu chốt là DN dành 51% lợi nhuận cho việc tái đầu tư vào xã hội, nhưng vấn đề tài chính là khác nhau giữa các DNXH[3]. Ví dụ, có những DN theo mô hình không vì lợi nhuận, tức là vẫn có lợi nhuận nhưng không chia về cho cổ đông/ thành viên sáng lập. Bên cạnh có DN theo hướng không lợi nhuận (non – profit organization), tức người dân có thể thụ hưởng các sản phẩm của DN không cần trả phí (ví dụ, các mô hình dạy nghề).

Việc có nhiều cách thức sử dụng lợi nhuận như vậy dẫn đến hệ quả xác định tiêu chí và cam kết của DN khó khăn. Như vậy, khi chưa có cơ sở pháp lý để phân biệt các loại DNXH thì khó để tận dụng thế mạnh của DN này vào các hoạt động phát triển sản phẩm y tế phòng chống dịch.

Các ưu đãi khi tiếp cận sản phẩm y tế phòng chống Covid-19

Ưu đãi về đấu thầu hàng hóa là thiết bị y tế

Sản phẩm y tế được quy định là hàng hóa theo khoản 25 Điều 4 VBHN Luật Đấu thầu (LĐT) 2020. Vì vậy, theo Điều 14 LĐT 2019, Nghị định 63/2014/NĐ-CP (Nghị định 63) và Thông tư 14/2020/TT-BYT (Thông tư 14), DN tham gia đấu thầu loại hàng hóa này có thể được hưởng các ưu đãi chọn thầu như sau:

  • Ưu đãi đối với hàng hóa trong nước (hướng dẫn bởi Điều 5, Nghị định 63);
  • Ưu đãi đối với đấu thầu trong nước (hướng dẫn bởi Điều 6, Nghị định 63).

Cách tính và điều kiện để được ưu đãi được các Điều 5,6 Nghị định 63 quy định rõ. Trong đó nhấn mạnh nguyên tắc chung (Điều 4) là ưu tiên hơn cho nhà thầu có đề xuất chi phí trong nước cao hơn hoặc sử dụng nhiều lao động địa phương hơn (tính trên giá trị tiền lương, tiền công chi trả).

Rất ít DNXH có đủ nguồn lực cho hoạt động kinh doanh sản phẩm y tế

Nhìn chung, các nguyên tắc ưu đãi phù hợp với nhiều tính chất của DNXH (ưu tiên DN sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước, có tầng lớp lao động yếu thế ). Nhưng liệu các DNXH có đủ nguồn lực, cơ sở sản xuất để cung cấp thiết bị y tế (TBYT) hay không đang là rào cản lớn nhất. Thực tế cho thấy chưa có thông tin nào về việc có DNXH được trúng thầu cung cấp TBYT hay có hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực y tế.

Theo Báo cáo của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế (CIEM), số DNXH hoạt động trong lĩnh vực y tế chiếm 9% tổng số DNXH tại VN. Như vậy, trong khi các DNXH tập trung nhiều nhất ở mảng nông nghiệp (35%) – phát triển các sản phẩm, đào tạo nghề nông nghiệp thì ở mảng y tế, gần như bước tiến xa nhất của của DNXH là cung cấp dịch vụ y tế (ví dụ, tổ chức Help International cung cấp dịch vụ bác sĩ hỗ trợ tại nhà), hoặc tổ chức các mạng lưới hỗ trợ về y tế hơn là cung cấp trang thiết bị, sản phẩm y tế hỗ trợ phòng dịch một cách bài bản theo quy định của pháp luật. Hơn nữa, DNXH cần đáp ứng tiêu chí tại khoản 6 Điều 7 Thông tư 14 để tham dự thầu.

DNXH được hưởng ưu đãi lựa chọn nhà thầu khi tham gia đấu thầu sản phẩm y tế

Các ưu đãi về thuế khi kinh doanh sản phẩm y tế phòng chống Covid-19

Phần thu nhập mà DN có được từ hoạt động y tế sẽ được hưởng ưu đãi thuế suất là 10% (khoản 3 Điều 9 Thông tư 78/2014). Lưu ý, danh mục loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các doanh nghiệp thực hiện xã hội hoá được thực hiện theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định (theo Khoản 3 Điều 11 Thông tư 96/2015/TT-BTC  bổ sung sửa đổi Thông tư 78/2016/TT-BTC).

DN được hưởng ưu đãi đối với một số thiết bị y tế

Trách nhiệm của doanh nghiệp xã hội với cộng đồng

Trách nhiệm chung của DNXH

LDN 2020 và Nghị định 47 quy định các trách nhiệm của DNXH như sau:

  • Sử dụng 51% tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu đã đăng ký;
  • Duy trì mục tiêu hoạt động và các điều kiện theo quy định;
  • Không sử dụng các khoản tài trợ cho mục đích khác ngoài các mục đích phục vụ xã hội, cộng đồng đã đăng ký;
  • Định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp;
  • Doanh nghiệp xã hội phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền khi chấm dứt thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường hoặc không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư;
  • Lập Văn bản tiếp nhận tài trợ và thông báo cho Cơ quan có thẩm quyền (Điều 4, Nghị định 47).

Trách nhiệm gửi Cơ quan có thẩm quyền Báo cáo tác động xã hội, môi trường định kỳ hằng năm

Theo Điều 10 Nghị định 96/2015/NĐ-CP và thông tư 04/2016/TT-BKHĐT, nội dung Báo cáo tác động xã hội, môi trường phải mô tả các vấn đề:

  • Kết quả và mức độ thực hiện Mục tiêu xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã cam kết.
  • Tình hình tiếp nhận và sử dụng viện trợ, tài trợ;
  • Mức lợi nhuận doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư cho các Mục tiêu xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã cam kết

Quy định trên gắn DNXH với trách nhiệm tối quan trọng là đặt sứ mệnh xã hội ở vị trí trung tâm, trong khi mục tiêu lợi nhuận đóng vai trò hỗ trợ. Trong đó nhấn mạnh là ưu tiên hỗ trợ nhóm yếu thế trong xã hội ở các lĩnh vực văn hóa, môi trường, giáo dục và y tế.

Trong lĩnh vực văn hóa và nhất là giáo dục, đào tạo nghề, các DNXH phát huy được thế mạnh trông thấy của mình và tạo ra một mạng lưới đào tạo nghề, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, dệt may truyền thống. Ví dụ phải kể đến công ty TNHH Mekong PLus (sứ mệnh cung cấp việc làm bền vững cho đối tượng là phụ nữ nghèo ở nông thôn. Hay KOTO – đơn vị hỗ trợ đào tạo nghề trong các lĩnh vực dịch vụ nhà hàng, khách sạn cho các đối tượng là trẻ em thiệt thòi và dễ bị tổn thương [4].

Hạn chế cần cải thiện

Quy mô hoạt động

Các rào cản để khai thác tiềm năng của khối DNXH trong lĩnh vực cung cấp thiết bị y tế, sản phẩm y tế nằm ở:

Quy mô nhỏ

Nhìn chung các DNXH ở Việt Nam hoạt động với quy mô nhỏ, đơn lẻ và tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục (9%) và môi trường (7%)[5]. Như vậy là chưa đủ để để hình thành các mạng lưới DN lớn và bền vững để tồn tại, đặc biệt là trong giai đoạn ảnh hưởng của dịch bệnh.

Tập trung ở hình thái tổ chức cộng đồng hơn là theo hình thức DNXH

Như đã đề cập, các tổ chức cộng đồng hỗ trợ y tế vẫn hoạt động sôi nổi hơn bao giờ trong cao điểm dịch bệnh. Nhưng chủ yếu là tạo mạng lưới kết nối, hỗ trợ thiện nguyện hay hỗ trợ nhu yếu phẩm,.. Để nói đến mạng lưới DNXH lớn mạnh đủ tư cách để tham gia đấu thầu TBYT là điều không khả thi với các yêu cầu, tiêu chuẩn ưu đãi lựa chọn nhà thầu như hiện nay.

Hành lang pháp lý về hoạt động kinh doanh sản phẩm y tế của DNXH

Các quy định hiện hành về điều kiện, tổ chức kinh doanh trang thiết bị y tế tại Nghị định 36/2016/NĐ-CP( bổ sung sửa đổi bởi Nghị định 169/2018/NĐ-CP) cũng như trong lĩnh vực y tế nói chung không quy định việc ưu đãi, hỗ trợ về nguồn vốn, chính sách và tổ chức hoạt động cho DNXH. Như vậy, lĩnh vực kinh doanh TBYT nói riêng và sản phẩm y tế nói chung chưa gắn liền với việc ưu đãi cho DNXH như LDN 2020, Nghị định 47, các nghị định Nghị định 96/2015/NĐ-CP và Thông tư 96/2015/TT-BTC đã thể hiện.

Việc kêu gọi DNXH mạnh dạn tham gia vào cung cấp trang thiết bị y tế thể hiện bức tranh lớn hơn là xu hướng xã hội hóa trong lĩnh vực y tế. Để làm được điều này thì can dự của Nhà nước phải giảm dần, cùng lúc tạo điều kiện để các cơ sở tư nhân tham gia tăng dần.

Mấu chốt của xã hội hóa y tế là mang lại các sản phẩm có tính phục vụ  cộng đồng và dễ tiếp cận. Như vậy, cần tạo hàng lang pháp lý cho chính sách hỗ trợ cho DNXH trong lĩnh vực y tế trên các phương diện:

  • Chính sách đấu thầu: ưu tiên tham gia đấu thầu, cung cấp các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng
  • Chính sách ưu đãi: ưu đãi về thuế khi kinh doanh/ hoạt động trong lĩnh vực y tế nói chung
  • Hỗ trợ hoạt động: thành lập cơ quan hỗ trợ phát triển DNXH, tư vấn đăng ký hoạt động trong lĩnh vực y tế,..

Thông tin liên hệ

Các Quý độc giả hãy lưu thông tin và liên hệ với chúng tôi khi cần hỗ trợ vấn đề pháp luật. Chuyên Tư Vấn Luật nhận hỗ trợ, hướng dẫn trợ giúp pháp luật qua các hình thức sau:

Tư vấn trực tuyến

Tư vấn trực tiếp

  • Trụ sở công ty: Tầng 14 Tòa nhà HM Tower, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TP.HCM.
  • Văn phòng giao dịch: 277/45 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 15, Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về Trách nhiệm của doanh nghiệp xã hội trong phát triển sản phẩm y tế phòng chống covid-19. Nếu Quý độc giả còn thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này hoặc có nhu cầu cần hỗ trợ tư vấn LUẬT SƯ TƯ VẤN LUẬT DOANH NGHIỆP, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE 1900.63.63.87. Luật sư của Chuyên tư vấn luật hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Xin cảm ơn!

Chú thích

[1]Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP): Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, 2012. Truy cập ngày 13/01/2022 tại https://www.britishcouncil.vn/sites/default/files/dnxh-tai-viet-nam-khai-niem-boi-canh-chinh-sach.pdf

[2] Phạm Việt Dũng, Xã hội hóa dịch vụ công tiếp cận dưới góc độ sở hữu, Tạp chí cộng sản. Truy cập ngày 14/01/2022 tại https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824359/xa-hoi-hoa-dich-vu-cong-tiep-can-duoi-goc-do-so-huu.aspx#

[3] Đoàn Minh Huấn và Hoàng Đình Minh, Phát triển tổ chức phi lợi nhuận cung ứng dịch vụ xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tạp chí Công thương. Truy cập ngày 15/01/2022 tại http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phat-trien-to-chuc-phi-loi-nhuan-cung-ung-dich-vu-xa-hoi-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-63505.htm

[4] Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế quốc dân: Điển hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Hà Nội, 2016. Truy cập 10/01/2022 tại: https://www.britishcouncil.vn/sites/default/files/sach-dien-hinh-doanh-nghiep-xa-hoi-tai-viet-nam.pdf

[5] Xem chú thích 4.

Scores: 5 (19 votes)

  Hotline: 1900.63.63.87