Với sự phát triển không ngừng của kinh tế-xã hội, làm phát sinh, thay đổi các quan hệ xã hội, đòi hỏi các quy phạm pháp luật cũng phải thay đổi để điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quy phạm pháp luật mâu thuẫn, lạc hậu hoặc thiếu hụt các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các tranh chấp trong xã hội. Vì vậy, việc sử dụng án lệ như một yêu cầu cần thiết để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội trên. Vậy Án lệ là gì? Án lệ có phải là một văn bản pháp luật không?

Nguyên tắc áp dụng án lệ ở Việt Nam
Án lệ là gì theo quy định của pháp luật Việt Nam

Án lệ là gì?

Án lệ (tiếng Pháp-Jurisprudence) được hiểu là: Đường lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trong các trường hợp tương tự. Vận dụng án lệ là việc tòa cấp dưới vận dụng các phán quyết có từ trước của tòa cấp trên để đưa ra một phán quyết mới tương tự trong một vụ việc tương tự.

Theo quan điểm của các nhà luật học theo hệ luật Anh -Mỹ (Anglo – Sacxon), án lệ được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa hẹp, án lệ bao gồm toàn bộ các quyết định, bản án được tuyên bố bởi Tòa án và có giá trị như nguồn luật, đưa ra những nguyên tắc, nền tảng áp dụng cho các vụ việc xảy ra tương tự sau này, hay là cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc xảy ra trong tương lai. Còn theo nghĩa rộng, án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Toà án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court), Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án.

Với những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Dân sự – Civil Law), tiêu biểu một số nước như Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản,… Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật. Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao.

Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì án lệ được hiểu như sau:

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. 

Như vậy, về bản chất, án lệ đều là những phán quyết của Tòa án chứa đựng những nguyên tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh mà pháp luật chưa thể điều chỉnh hay những mâu thuẫn, thiếu sót của hệ thống pháp luật. Cho nên, có thể hiểu cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng.

Việt Nam đã sử dụng án lệ chưa? Án lệ có phải là một văn bản pháp luật hay không?

Nếu như đối với các nước theo hệ thống Thông luật (common law) như Anh hay Mỹ thì việc công bố và sử dụng án lệ được thừa nhận như một nguồn luật chính thức ở đây. Từ đó đặt ra một quy tắc “Stare Decisis” đòi hỏi các thẩm phán khi xét xử một vụ án có tình tiết tương tự phải tuân thủ áp dụng án lệ. Chính vì thế mà các phán quyết của Thẩm phán có thẩm quyền ở hệ thống Thông luật chính là những người tạo ra án lệ- một nguồn cơ bản của pháp luật, được áp dụng rộng rãi và tuân thủ nguyên tắc áp dụng. Án lệ ở các nước theo hệ thống Common law là nguồn pháp luật, hay còn gọi là “tiền lệ pháp”.

Án lệ có phải là một văn bản quy phạm pháp luật hay không?
Án lệ là gì theo quy định của pháp luật Việt Nam

Khác với các nước theo hệ thống thông luật nói trên, hệ thống pháp luật Việt Nam mang đặc thù của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, coi trọng pháp luật thành văn nên khi đề xuất sử dụng án lệ gặp rất nhiều tranh cãi. Với những giá trị pháp lý mà án lệ mang lại (góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao vai trò xét xử của Tòa án đặc biệt là Thẩm phán, đảm bảo sự công bằng, giảm thiểu được oan sai trong hoạt động xét xử, đảm bảo tính cập nhật, hiệu quả của hệ thống pháp luật), án lệ đã chính thức được áp dụng tại Việt Nam. Số án lệ được công bố tính đến nay có 27 án lệ về các lĩnh vực dân sự (thừa kế, hợp đồng, quyền sử dụng đất), hôn nhân gia đình, kinh doanh-thương mại, lao động và hình sự. Số lượng án lệ được công bố mặc dù chưa nhiều nhưng cho thấy sự phát triển đột phá của việc sử dụng án lệ ở Việt Nam.

Tuy nhiên, án lệ ở Việt Nam chỉ được coi như một nguồn hỗ trợ các văn bản pháp luật do mà không được coi là văn bản pháp luật vì án lệ không đáp ứng các điều kiện của một văn bản pháp luật: chủ thể ban hành, hình thức ban hành, trình tự thủ tục ban hành, được quy định cụ thể tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Cơ chế sử dụng án lệ Việt Nam như thế nào?

Theo quy định tại Điều 8 Nghị Quyết số 03/2015/ NQ-HĐTP quy định về nguyên tắc áp dụng án lệ, cụ thể:

  • Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc được ghi trong quyết định công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau. Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Tòa án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Tòa án; trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án.
  • Trường hợp do có sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì Thẩm phán, Hội thẩm không áp dụng án lệ.
  • Trường hợp do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp thì Thẩm phán, Hội thẩm không áp dụng án lệ, đồng thời phải kiến nghị ngay với Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để xem xét hủy bỏ theo hướng dẫn tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 9 Nghị quyết này.

Như vậy, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu và đưa ra cơ sở để cho thấy vụ việc đưa ra có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự với án lệ làm cơ sở cho việc áp dụng án lệ. Những vụ việc tương tự nhau, có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau khi áp dụng án lệ.

Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ của Tòa án hiện nay vẫn còn gặp nhiều bất cập như:

Điều kiện áp dụng án lệ ở Việt Nam
Án lệ có phải là một văn bản quy phạm pháp luật hay không?
  • Chưa có sự thống nhất trong việc xác định yếu tố bắt buộc nằm ở phần “Khái quát nội dung của án lệ” hay phần “Nội dung của án lệ” theo mẫu án lệ đã công bố. Thực tiễn áp dụng án lệ, một số Tòa án còn trích toàn bộ nội dung của phần “Khái quát nội dung của án lệ” trong phần lập luận của mình. Chẳng hạn, Bản án số 61/2017/ KDTM-ST ngày 3 tháng 8 năm 2017 của TAND quận Gò Vấp trích toàn bộ nội dung của phần “Khái quát nội dung của án lệ” của án lệ số 08/2016/AL Trong khi đó, xác định tình tiết tương tự của án lệ có giá trị bắt buộc tuân theo nằm ở phần “Nội dung của án lệ” bởi phần “Khái quát nội dung của án lệ” không là “lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” mà chỉ là nội dung do bộ phận giúp việc của TANDTC xây dựng nên không thể là án lệ. Do đó, nội dung của phần “Khái quát nội dung của án lệ” chỉ mang tính tham khảo, không có giá trị bắt buộc.
  • Các Thẩm phán chưa được trang bị kỹ càng kỹ năng xác định tình tiết cơ bản có tính chất tương tự trong hoạt động áp dụng án lệ. Điều này dẫn đến tình trạng cùng một tình tiết nhưng các tòa án áp dụng án lệ có quan điểm khác nhau. Tòa án này cho rằng đó là tình tiết cơ bản nhưng Tòa án khác lại không cho là tình tiết cơ bản. Chẳng hạn, trong một vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” do TAND Tp Cần Thơ giải quyết. Nội dung vụ việc này có tình tiết cơ bản tương tự với án lệ số 02/2016/AL là Người Việt kiều nhờ Người Việt Nam đứng tên mua tài sản. Tuy nhiên, tại Bản án số 20/2017/DS-PT ngày 24/02/2017, Tòa này đã không áp dụng án lệ số 02. Lý do không áp dụng án lệ cũng được thể hiện rõ trong phần lập luận của bản án này là có sự khác biệt về tình tiết, trong án lệ số 02 có tình tiết là Người Việt kiều “trực tiếp” giao dịch với người bán tài sản (đất) còn vụ việc Tòa này giải quyết có tình tiết Người Việt kiều “không trực tiếp” giao dịch mà đưa tiền cho người đứng tên dùm giao dịch.  Ngược lại, trong Bản án số 208/2017/ DS-PT của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 8 năm 2017, mặc dù cũng có tình tiết Người Việt kiều “không trực tiếp” giao dịch mà đưa tiền cho người đứng tên dùm giao dịch nhưng Tòa này vẫn áp dụng án lệ số 02/2016/AL yêu cầu người đứng tên dùm phải trả nhà lại cho Người Việt kiều.
  • Pháp luật quy định rõ thời điểm có hiệu lực của án lệ có thể dẫn tình trạng bất bình đẳng, nguyên tắc tương tự sẽ bị gián đoạn do áp dụng hiệu lực thời gian của án lệ. Hai vụ việc A và B có tình tiết tương tự nhau nhưng xảy ra ở hai thời điểm khác nhau có thể không được giải quyết như nhau. Theo quy định của Nghị quyết 03/2015/ NQ-HĐTP năm 2015 thì thời điểm có hiệu lực của án lệ là sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc được ghi trong quyết định công bố án lệ của Chánh án TANDTC chứ không dựa vào ngày ban hành bản án, quyết định. Mặc dù bản án, quyết định có chứa giải pháp pháp lý mới (chọn làm Dự thảo án lệ) đã công bố theo quy định của Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC nhưng trước ngày công bố để nhằm xác định hiệu lực của án lệ thì các tòa án không được phép áp dụng trong các trường hợp tương tự. Như vậy, nguyên tắc tương tự nhằm bảo đảm sự công bằng bị gián đoạn bởi sự ấn định thời điểm có hiệu lực án lệ của TANDTC. Chẳng hạn, cả hai vụ việc đều có tình tiết tương tự với án lệ nhưng vụ việc A xảy ra trước một ngày so với thời điểm có hiệu lực của án lệ thì tòa án không áp dụng án lệ nhưng vụ việc B xảy ra sau một ngày so với vụ việc A thì tòa án áp dụng án lệ. Điều này không những không thực hiện được nguyên tắc công bằng mà còn dẫn đến tình trạng công lý bị trì hoãn.

Từ đó cho thấy, mặc dù án lệ đã được áp dụng trong thực tiễn xét xử của Việt Nam nhưng cơ chế sử dụng án lệ vẫn chưa được quy định rõ ràng, phù hợp nên gây khó khăn, mâu thuẫn giữa các Tòa khi áp dụng án lệ, khả năng áp dụng án lệ của Tòa vào xét xử chưa cao. Thế nên, cần có cơ chế sử dụng án lệ phù hợp để nâng cao hiệu quả xét xử cũng như hiệu quả áp dụng án lệ.

 Trên đây là nội dung tư vấn về: Án lệ là gì? Án lệ có phải là một văn bản pháp luật không? Trường hợp Quý khách hàng có thắc mắc nào về nội dung hoặc cần trợ giúp pháp lý liên quan, vui lòng liên hệ với Luật sư Phan Mạnh Thăng qua hotline 0908 748 368 để được giải đáp và hỗ trợ kịp thời, đầy đủ. Xin cảm ơn!

  Hotline: 1900.63.63.87