Trong cuộc sống, hầu như mọi người đều có gắng để thành công, để kiếm thật nhiều tiền, ngoài việc phục vụ cho bản thân thì còn vì mục đích khác, đó là để lại những người mà mình thương yêu khi nhắm mắt xuôi tay. Nhưng không phải lúc nào người được thừa kế cũng được hưởng di sản mình để lại. Vậy thì trường hợp nào thì không được hưởng di sản thừa kế do người mất để lại? Mời các bạn đến với bài viết của chúng tôi.

Quy định pháp luật về thừa kế
Trường hợp nào không được hưởng di sản thừa kế

Thừa kế là gì?

Thừa kế là việc thực thi chuyển giao tài sản, lợi ích, nợ nần, các quyền, nghĩa vụ từ một người đã chết sang một cá nhân nào đó. Thừa kế có vai trò quan trọng từ rất lâu trong xã hội loài người.

Theo quy định tại Điều 609 về quyền thừa kế thì: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Và tại Điều 613 quy định người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp thừa kế theo pháp luật (không có di chúc)

Thứ nhất, theo điểm a khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự thì người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó không được quyền hưởng di sản. Theo đó, cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản là giết người để lại di sản, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người để lại di sản. Ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản là đối xử tàn tệ hoặc đầy đọa người để lại di sản cả về thể xác lẫn tinh thần. Xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người để lại di sản thể hiện ở hành vi làm nhục, sỉ nhục, bịa đặt hoặc lan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người để lại di sản. Cần lưu ý rằng, điều kiện quan trọng được đặt ra trong trường hợp này là phải có một bản án có hiệu lực của pháp luật của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp mặc dù có những hành vi trên nhưng không bị kết án thì sẽ không bị ràng buộc bởi điều này. Hơn nữa, người thừa kế có những hành vi nói trên đã bị kết án, dù đã được xóa án thì vẫn không có quyền hưởng di sản của người đã chết.

Thứ hai, theo điểm b khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự thì người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản không được quyền hưởng di sản. Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình như nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con cái, giữa ông, bà và cháu, giữa, chị, em với nhau, nếu có khả năng nuôi dưỡng, mà không thực hiện nuôi dưỡng, làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tình cảnh khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, hoặc nguy hiểm đến tính mạng thì không có quyền hưởng di sản của người đó.

Thứ ba, theo điểm c khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự thì người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng sẽ không được quyền hưởng di sản.

Thứ tư, theo điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự thì người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Quyền lập di chúc để định đoạt tài sản chính là quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu khi còn sống. Do đó, hành vi cản trở đối với người lập di chúc là hành vi trái pháp luật. Vì vậy, người có hành vi cản trở sẽ bị tước quyền hưởng di sản do người có di sản để lại. Tuy nhiên cần đặc biệt chú ý, trường hợp người thừa kế có hành vi lừa dối người lập di chúc hoặc giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhưng không nhằm mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người lập di chúc thì chỉ bị áp dụng các biện pháp chế tài thông thường theo pháp luật về dân sự như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mà không bị tước quyền thừa kế.

Trường hợp thừa kế theo di chúc

Trường hợp không được hưởng di sản theo pháp luật
Trường hợp không được hưởng di sản theo di chúc

Theo đó, những người thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 sẽ là người không được hưởng di sản. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 621 Bộ luật dân sự thì những người đã phân tích ở phần trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Theo đó, luật dân sự dựa trên cơ sở pháp luật luôn tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản nên trường hợp nếu người để lại di sản mong muốn cho những người này thừa kế di sản của mình thì pháp luật hoàn toàn không cấm.

Trên đây là bài viết về vấn đề :”Trường hợp nào thì không được hưởng di sản thừa kế do người mất để lại?” Trường hợp quý khách còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư Phan Mạnh Thăng qua hotline 0908 748 368 để được tư vấn miễn phí.