THỦ TỤC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM

02 /012018

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM

Giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục tố tụng đặc biệt, để xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trong đó, giám đốc thẩm là thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Còn tái thẩm là thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Các quyết định của thủ tục Giám đốc thẩm, Tái thẩm bao gồm: tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa; tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục hoặc đình chỉ thi hành án.

1. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Trong trường hợp giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, tức các phán quyết của tòa cấp dưới đã đúng pháp luật, quyết định thi hành án được giữ nguyên thì theo quy định tại Điều 134 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) thì tùy vào từng trường hợp mà cơ quan thi hành án dân sự (THADS) giải quyết như sau:

Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần mà bị kháng nghị.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự khi giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó đã thi hành xong.

2. Thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa.

Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa là bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ. Việc thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa được thực hiện theo quy định tại Điều 135 Luật THADS, như sau:

Khi bản án, quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa thì việc thi hành được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm và bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa. Lúc này có hai trường hợp xảy ra:

Thứ nhất, trường hợp phần bản án, quyết định của Tòa cấp dưới không bị huỷ, bị sửa mà chưa được thi hành thì: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa; còn nếu đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án đã ra quyết định giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.

Thứ hai, trường hợp phần bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản. Nhưng vì đã được thi hành nên bản án, quyết định bị hủy, sửa đã được thi hành có thể đã chuyển dịch hợp pháp tài sản cho người khác sở hữu thì việc tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa cấp dưới đã bị hủy hoặc sửa sẽ gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhiều chủ thể, vì vậy pháp luật về THADS đã quy định như sau để giải quyết các vấn đề phát sinh theo quyết định giám đốc thẩm:

Đối với tài sản thi hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng chế trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Như vậy, trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, sửa bản án mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc khôi phục lại quyền tài sản, hoàn trả tài sản. Nếu các bên không thỏa thuận được thì cưỡng chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu nếu tài sản đó là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu còn nguyên trạng.

Đối với tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản. Giá trị tài sản được bồi hoàn cho chủ sở hữu ban đầu mà các bên căn cứ bồi hoàn là giá tài sản trên thị trường ở địa phương tại thời điểm giải quyết việc bồi hoàn.

Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình trong giao dịch hợp pháp mà theo bản án, quyết định đã bị hủy hoặc sửa. Trường hợp có thiệt hại xảy ra và có yêu cầu của đương sự về bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị hủy, sửa đổi giải quyết theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng gây ra.

3. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện theo quy định tại Điều 135 Luật THADS 2008 (Sửa đổi bổ sung 2014), có hai trường hợp xảy ra như sau:

Đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm mới. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 136 chưa quy định về thủ tục thi hành án, xử lý tài sản trong trường hợp bản án, quyết định đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong thì việc thi hành bản án sơ thẩm, phúc thẩm mới được thi hành như thế nào. Nhưng căn cứ điểm d khoản 1 Điều 50 Luật THADS thì Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án khi bản án, quyết định bị hủy. Lúc này các đương sự có thể thỏa thuận để hoàn trả lại tài sản, phục hồi quyền tài sản hoặc được bồi hoàn giá trị tài sản.

Đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật THADS, bởi kết quả xử lý tài sản trong trường hợp bản án, quyết định đã bị hủy hoặc sửa mà có phần tài sản đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì về cơ bản kết quả giải quyết là giống nhau.

Qua nội dung đã phân tích như trên, chúng ta nhận thấy một vài bất cập trong quy định pháp luật về thi hành án quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm như sau:

Thứ nhất, Căn cứ Điều 343 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền:

(i) Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

(ii) Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;

(iii) Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;

(iv) Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án;

(v) Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Nhưng Luật THADS chỉ quy định về việc thi hành án đối với (i), (ii), (iii) và (iv) còn "sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" thì Luật THADS chưa có quy định hướng dẫn cụ thể, dẫn đến khó khăn cho các cơ quan THADS.

Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật THADS thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo đó, những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì phải tạm dừng tổ chức thi hành án cho đến khi có quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Việc ra quyết định tiếp tục tổ chức thi hành án chỉ được thực hiện khi cơ quan thi hành án nhận được một trong các quyết định sau đây: Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị ; Như vậy, khoản 3 Điều 49 Luật Thi hành án dân sự quy định về việc ra quyết định tiếp tục thi hành án không bao gồm trường hợp quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm “Hủy một phần bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm” và trường hợp quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm “Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Như vậy Luật THADS cần được sửa đổi, bổ sung các điều trên để phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.