THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (PHẦN 2: KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN DÂN SỰ)

14 /122017

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (PHẦN 2: KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN DÂN SỰ)

1. Thi hành án dân sự

Căn cứ Điều 38 Luật Thi hành án dân sự (THADS) 2008 (sửa đổi 2014), cơ quan thi hành án có nghĩa vụ gửi quyết định thi hành cho Viện kiểm sát cùng cấp, để cơ quan này thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong công tác kiểm sát thi hành án. Từ đó cơ chế giám sát, kiểm sát được thực hiện đảm bảo cho hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện.

2. Thông báo về thi hành án

Căn cứ Điều 39 Luật thi hành án dân sự thì cơ quan THADS có nghĩa vụ thông báo các quyết định thi hành án (quyết định THADS, quyết định hoãn/ tạm đình chỉ/ đình chỉ/ trả lại đơn yêu cầu/ cưỡng chế thi hành án), giấy báo (giấy báo đương sự đến giải quyets việc THADS), giấy triệu tập về thi hành án do chấp hành viên ban hành và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản cơ quan THADS phải thực hiện việc thông báo

Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc quy định cụ thể các hình thức thông báo như trên nhằm đảm bảo các giấy tờ cần được thông báo của cơ quan THADS được giao tận tay đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

3. Tự nguyện thi hành án

Theo quy định tại Điều 45 Luật thi hành án dân sự, đương sự sẽ có 10 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA để tự nguyện THA, nếu hết thời hạn quy định không tự nguyện THA thì bị cưỡng chế. Việc cho đương sự thời hạn tự nguyện THADS tạo Điều kiện hạn chế việc cưỡng chế xảy ra, tránh mất thời gian và tốn kém vì để cưỡng chế một vụ THADS cần huy động nhiều lực lượng, lên kế hoạch – phương pháp cưỡng chế và đặc biệt là chi phí cưỡng chế người thi hành án sẽ phải chịu theo quy định của pháp luật. Nên thời gian cho người phải thi hành tự nguyện thực hiện là rất cần thiết.

4. Xác minh Điều kiện thi hành án

Căn cứ theo Điều 44 Luật thi hành án dân sự và Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự thì xác minh Điều kiện thi hành án dân sự là việc chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án. Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự. BỞi kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ sở để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Dựa vào kết quả xác minh này mà các nghiệp vụ và thủ tục trong THADS mới phát sinh.

Việc xác minh được Chấp hành viên tiến hành khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án, tạo Điều kiện cho Chấp hành viên có thời gian nghiên cứu hồ sơ và tiến hành việc xác minh hiệu quả hơn. Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh có trách nhiệm xác nhận vào biên bản xác minh.

* Ủy quyền xác minh

Khoản 3 Điều 44 Luật thi hành án dân sự cho phép cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền xác minh Điều kiện thi hành án dân sự. Bởi Theo quy định tại Điều 55 Luật Thi hành án dân sự về ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Nhưng để xác minh được người phải thi hành án có đúng là chuyển về sinh sống tại địa phương đó hoặc tại địa phương đó có tài sản, hoặc là nơi làm việc của người phải thi hành án thì Chấp hành viên cần phải xác minh tại địa phương đó, tránh trường hợp khi cơ quan thi hành án nơi nhận ủy thác sau khi thụ lý xong, tiến hành xác minh thì được biết đương sự hoàn toàn không chuyển về sinh sống tại địa phương, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, hồ sơ ủy thác đi và trả lại nhiều lần dẫn đến việc thi hành án tồn đọng, kéo dài. Mặt khác, nếu Chấp hành viên phải đi đến địa phương khác xác minh thì chi phí xác minh chưa được quy định rõ, hoặc nếu không nhận được sự phối hợp, ủng hộ của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan liên quan tại địa phương khác thì việc xác minh của Chấp hành viên rất khó khăn. Chính vì vậy, quy định ủy quyền xác minh tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Chấp hành viên trước khi tiến hành ủy thác thi hành án.

5. Hậu quả pháp lý sau khi xác minh Điều kiện thi hành án

Thứ nhất, trường hợp kết quả xác minh trong các việc thi hành án theo yêu cầu cho thấy người phải thi hành án không có Điều kiện thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có Điều kiện thi hành án .

Thứ hai, trường hợp người phải thi hành án đủ Điều kiện thi hành án mà không thi hành thì Chấp hành viên sẽ tiến hành cưỡng chế THADS.

Hiện nay việc sử dụng tiền trong lưu thông ở nước ta chủ yếu là tiền mặt, ít thông qua tài khoản nên sẽ có khó khăn trong việc xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án. Tương tự như vậy việc xác minh đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu cũng không phải là dễ dàng cho chấp hành viên.

Theo quy định tại Điều 46 Luật thi hành án dân sự thì hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, người phải thi hành án có Điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Đây là biện pháp được áp dụng sau cùng khi mà người phải THADS không tự nguyện thi hành.

6. Thứ tự thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án

Việc thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án thực hiên theo nguyên tắc ưu tiên như sau:

  1. nhất, ưu tiên cho những khoản tiền liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe; những khoản thu nhập từ lao động, gắn với công sức lao động như tiền công, tiền lương và những khoản liên quan trực tiếp đến người lao động. Sau khi thanh toán hết cho các nghĩa vụ trên, số tiền còn lại được thanh toán cho các nghĩa vụ án phí của người phải thi hành án. Sau khi thanh toán hết nghĩa vụ án phí mà còn tiền thì tiếp tục thanh toán cho các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định. Số tiền còn thừa sau khi thanh toán hết các nghĩa vụ mà người phải thi hành án phải chịu theo bản án, quyết định của Tòa án thì phải được trả lại người phải thi hành án.

Thứ hai, số tiền thi hành án thu được từ việc xử lý tài sản như bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể sẽ được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó, sau khi trừ các chi phí về thi hành án.

Vấn đề đặt ra là theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật thi hành án dân sự về trường hợp có nhiều người được thi hành án, khi thu tiền theo quyết định cưỡng chế thi hành án thì số tiền đó được trả cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Vậy những tất cả người được thi hành án ở đây hiểu theo khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành hay người được thi hành án không xét đến vấn đề họ đã nộp đơn yêu cầu hay chưa trước thời điểm ra quyết định cưỡng chế thi hành án. Quy định này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, nhất là trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành án .

Quá trình THADS là một quá trình phức tạp, liên quan đến nhân thân, tài sản và nhiều chủ thể khác nên sẽ có những trợ ngại khách quan dẫn đến việc thi hành chưa thể thực hiện được, tạm thời bị gián đoạn, không thể thi hành. Vì vậy tùy trường hợp mà cơ quan THADS ra quyết định hoãn/ tạm đình chỉ/ đình chỉ hoặc trả lạo đơn yêu cầu THADS.

7. Hoãn thi hành án dân sự

Hoãn thi hành án dân sự là việc cơ quan THADS tạm thời chưa cho tiến hành bản án, quyết định dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định tại Điều 48 Luật THADS. Lúc này việc THADS sẽ chuyển sang một thời điểm khác trể hơn.

Người có thẩm quyền kháng nghị gửi văn bản yêu cầu hoãn thi hành án dân sự tới cơ quan thi hành án dân sự. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền ra quyết định hoãn thi hành án.

Khi có căn cứ hoãn thi hành án thì chấp hành viên chịu trách nhiệm thi hành án đề nghị thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án bằng văn bản trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án.

Việc hoãn thi hành án chấm dứt khi căn cứ hoãn thi hành án không còn. Trường hợp hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, thời gian hoãn không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án;

Sau khi có quyêt định hoãn thi hành án, các hoạt động thi hành án dân sự được tạm ngừng lại. Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị

Kết thúc hoãn thi hành án bằng việc ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.

8. Tạm đình chỉ thi hành án dân sự

Tạm đình chỉ thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự quyết định tạm ngừng thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án khi có căn cứ do pháp luật qui định. Việc tạm đình chỉ thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 49 Luật thi hành án dân sự. Theo đó, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Căn cứ tạm đình chỉ thi hành án bao gồm:

Thứ nhất, khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thứ hai, khi nhận được thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án.

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ thi hành án các hoạt động thi hành án dân sự được tạm ngừng lại. Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị. Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án, do có kháng nghị người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị; Quyết định của Tòa án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

9. Đình chỉ thi hành án dân sự

Đình chỉ thi hành án là việc cơ quan thi hành án ngừng hẳn việc thi hành bản án, quyết định dân sự khi có căn cứ theo quy định của pháp luật. Việc đình chỉ THADS thực hiện theo quy định tại Điều 50 Luật THADS như sau: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án đan sự và xóa sổ thụ lý vụ án đối với các trường hợp mà đối tượng có trách nhiệm thi hành án không còn nữa như người phải thi hành án chết không để lại di sản; Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định; Bản án, quyết định bị hủy. Kể từ thời điểm ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự, các bên đương sự chấm dứt tất cả các quyền và nghĩa vụ của họ được tuyên trong bản án, quyết định. Và việc thi hành án sẽ đương nhiên kết thúc.

10. Kết thúc thi hành án dân sự

Căn cứ Điều 52, 53 Luật thi hành án dân sự thì khi có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án thì việc thi hành án đương nhiên kết thúc. Quy định việc kết thúc THADS như thế này nhằm tạo Điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự tham gia vào các giao dịch mới như giao kết hợp đồng, vay mượn, thế chấp tài sản. Việc kết thúc được thực hiện qua quy định sau khi kết thúc thi hành án đương sự có thể yêu cầu cơ quan THADS xác nhận kết quả thi hành án.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.