THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (PHẦN 1: TRƯỚC KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN)

11 /122017

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (PHẦN 1: TRƯỚC KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN)

Theo như quy định của pháp luật thi hành án dân sự, sau khi có bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật, nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình và không có thỏa thuận khác thì cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án dân sự (THADS) khi có đơn yêu cầu, ngoại trừ một số trường hợp cơ quan THADS có nghĩa vụ chủ động thi hành.

1. Nghĩa vụ của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại sau khi ra bản án, quyết định

a. Nghĩa vụ hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án dân sự

Theo tinh thần của Điều 7, 7a Luật thi hành án dân sự 2008 (Sửa đổi 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án, nên khi ra bản án, quyết định nghĩa vụ của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại là phải giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu được yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án cho người được thi hành án, người phải thi hành án. Ngoài việc giải thích các cơ quan trên còn phải ghi rõ trong bản án, quyết định để các đương sự hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ thi hành án . Ví dụ: Giải thích cho đương sự về quyền yêu cầu thi hành án trong trường hợp có thỏa thuận theo Điều 6 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) thì đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Nhưng nếu không có thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định .

Nhưng vấn đề đặt ra là Tòa án giải thích vào lúc nào và ai là người giải thích quyền trên cho các đương sự. Luật thi hành án dân sự đã không chỉ rõ vấn đề này, tuy nhiên, xét theo nguyên tắc, trình tự thủ tục hoạt động trong tố tụng dân sự thì thẩm phán là người được phân công giải quyết vụ án; là người có trách nhiệm ra các quyết định, hoặc cùng với Hội thẩm nhân dân họp thành Hội đồng xét xử để ra các bản án nên Thẩm phán là người giải thích là hợp lý nhất. Và việc giải thích có thể sau khi tuyên án hoặc khi giao bản án, quyết định. Nếu việc giải thích sau khi tuyên án thì phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Nếu lựa chọn việc giải thích khi giao quyết định thì phải ghi nội dung giải thích vào biên bản giao nhận quyết định để đảm bảo đương sự hiểu rõ quyền của mình.

b. Cấp bản án, quyết định

Căn cứ điều 27 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) thì một nghĩa vụ nữa của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại khi ra quyết định, bản án là phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi "Để thi hành". Bởi đây là một trong các căn cứ để người được thi hành án, người phải thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án.

Nhưng ghi "Để thi hành" vào bản án gửi cho đương sự có thật sự cần thiết, bởi: Căn cứ điều 106 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tuyên và đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên được các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tôn trọng và thực hiện. Như vậy đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được thi hành thì chỉ cần là bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật thì có thể thi hành được. Đồng thời xét về nguyên tắc tố tụng thì chỉ có hai cấp xét xử tại Tòa án, bản án tại cấp phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay . Còn theo quy định tại Luật thi hành án dân sự nếu bản án, quyết định không có cụm từ "Để thi hành" thì không thể thụ lý và đưa vào thi hành được, như vậy nếu theo quy định của Luật thi hành án dân sự thì bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật nhưng có thể chưa thể thi hành chỉ vì bản án không có chữ " Để thi hành". Như vậy việc Luật thi hành án dân sự quy định ghi "Để thi hành" vào bản án, quyết định là không thật sự hợp lý và cần thiết bởi nó mâu thuẫn với Hiến pháp và gây không thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Trên thực tế, để tạo điều kiện thông thoáng cho người yêu cầu thi hành án, chỉ cần bản án, quyết định của tòa án có cụm từ “Có hiệu lực pháp luật” hoặc các tài liệu kèm theo thể hiện bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành án

c. Chuyển giao bản án, quyết định

Căn cứ điều 28 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) thì tương tự nghĩa vụ gửi bản án, quyết định cho đương sự thì Tòa án cũng phải gửi các quyết định, bản án đã có hiệu lực cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để cơ quan thi hành án xem xét thẩm quyền thi hành án, có cơ sở pháp lý để thi hành, đồng thời giúp cơ quan thi hành án nắm rõ thông tin đương sự, từ đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

2. Quyền yêu cầu thi hành án của đương sự

a. Quyền yêu cầu thi hành án và thời hiệu yêu cầu thi hành án

Theo quy định tại điều 36 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) thì ngoại trừ một số nội dung trong bản án, quyết định hoặc bản án, quyết định thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành mà không cần đơn yêu cầu của đương sự thì các nội dung còn lại chỉ được cơ quan thi hành án quyết định thi hành án khi có yêu cầu của đương sự. Bởi giai đoạn thi hành án và giai đoạn xét xử là hai giai đoạn tách biệt, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước ở mỗi giai đoạn là khác nhau. Ở giai đoạn xét xử, Toà án, cơ quan có thẩm quyền công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án được thể hiện thông qua hình thức bản án, quyết định. Tuy nhiên, khi có trong tay bản án, quyết định người được hưởng quyền và lợi ích quyết định hoàn toàn có quyền quyết định việc có làm đơn yêu cầu thi hành án hay không, yêu cầu thi hành vào thời điểm nào, yêu cầu thi hành những gì, đã có những thoả thuận gì với bên phải thi hành án, đã thi hành với nhau được những gì…được pháp luật tôn trọng ý chí đương sự và để quyền quyết định thuộc về họ thông qua việc yêu cầu thi hành án.

Căn cứ điều 30 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc nghĩa vụ đến hạn hoặc đến định kỳ quy định trong bản án.Vậy thời hiệu là gì? Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định như chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự . Như vậy đối với thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự thì nếu quá thời hạn này mà người yêu cầu thi hành án không chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì sẽ hết quyền yêu cầu thi hành án. Lúc này, người được thi hành án sẽ mất quyền yêu cầu thi hành án để bảo vệ quyền lợi cho mình và người phải thi hành án xem như được miễn trừ trách nhiệm, không phải gánh chịu hậu quả pháp lý.

Vấn đề thời hiệu này rất cần được chú ý và hướng dẫn, giải thích rõ cho đương sự vì quyền và lợi ích của họ chỉ được bảo vệ thực sự trong thời gian này. Ví dụ: Trong một vụ án hình sự mà bị cáo bị tuyên án phạt tù với mức cao hơn 05 năm, người được thi hành án không được giải thích hoặc giải thích không rõ về thời hiệu và quyền yêu cầu thi hành án nên họ chờ cho người bị kết án thi hành án phạt tù xong họ mới yêu cầu thi hành án thì thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết, lúc này quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ.

Như vậy, nếu yêu cầu thi hành án dân sự mà đã hết thời hiệu đương sự cần phải làm gì? Pháp luật thi hành án dân sự - cụ thể tại điều 4.4 NĐ 62/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS đã tạo hướng mở trong trường hợp này để bảo về quyền lợi hợp pháp của đương sự đó là đương sự có quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn như sau: Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng, do lỗi của cơ quan xét xử... mà đương sự chứng minh được bằng cách nêu rõ lý do, kèm tại liệu chứng minh cho lý do không thể yêu cầu đúng hạn, xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn.

b. Đối tượng có quyền yêu cầu thi hành án

Theo như trình bày ở trên thì cả hai bên đương sự đều có quyền yêu cầu thi hành án. Người được thi hành án tức là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành. Người phải thi hành án tức là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Căn cứ Khoản 1 Điều 31 Luật thi hành án dân sự hiện hành thì: Để thực hiện quyền trên, đương sự là cá nhân có quyền tự mình yêu cầu thi hành án. Đối với những trường hợp mà người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì thực hiện quyền yêu cầu thi hành án thông qua người đại diện theo pháp luật; Trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là người mất năng lực hành vi dân sự, hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu thì quyền yêu cầu thi hành án được thực hiện thông qua người giám hộ. Trường hợp đương sự là pháp nhân thì thực hiện quyền yêu cầu thi hành án thông qua người đại diện theo pháp luật; Đối với hộ gia đình thì người đại diện theo pháp luật là chủ hộ gia đình.

Ngoài phương thức tự mình yêu cầu thi hành án pháp luật THADS còn cho phép đương sự yêu cầu thi hành án thông qua việc ủy quyền cho người khác. Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo sự uỷ quyền và người đại diện chỉ được thực hiện việc đại diện trong phạm vi được uỷ quyền.

c. Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu THADS

Đương sự có quyền yêu cầu THADS nhưng phải gửi yêu cầu đó đến đúng cơ quan có thẩm quyền thi hành án thì yêu cầu của họ mới được bảo vệ và thi hành. Có ba cơ quan có thẩm quyền thi hành án là cơ quan thi hành án cấp tỉnh, huyện và cấp quân khu. Thẩm quyền của các cơ quan THADS trên được phân theo lãnh thổ, cấp hành chính, và trong một số trường hợp còn theo tính chất vụ việc nên đương sự cần xem xét bản án, quyết định cần yêu cầu thi hành thuộc thẩm quyền của cơ quan nào tại điều 35 Luật thi hành án dân sự để yêu cầu THADS đúng cơ quan có thẩm quyền, tránh mất thời gian như bị từ chối yêu cầu thi hành án khi yêu cầu THADS đến cơ quan THADS không có thẩm quyền .

3. Cách thức thực hiện, yêu cầu và lưu ý khi thực hiện quyền yêu cầu thi hành án dân sự

a. Trình tự thực hiện

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu THADS

Theo hướng dẫn tại điều 31 Luật THADS các bên đươcng sự thực hiện quyền yêu cầu THADS bằng việc tư do lựa chọn một trong các cánh thức sau để thực hiện ý chí của mình:

  1. Nộp đơn yêu cầu THADS bằng văn bản:

Người nộp đơn có thể trực tiếp đến cơ quan THADS nộp hoặc gián tiếp thông qua bưu điện gửi đơn yêu cầu THADS đến cơ quan THADS. Khi nộp đơn yêu cầu thì phải đủ các nội dung quy định tại điều 31 Luật THADS

  1. Yêu cầu THADS bằng lời nói:

Lúc này người nộp đơn trực tiếp đến cơ quan THADS trình bày yêu cầu bằng lời nói và việc yêu cầu này sẽ được cơ quan THADS ghi nhận bằng biên bản. Biên bản do cán bộ lập cũng phải có đầy đủ các nội dung như nội dung của đơn yêu cầu THADS và lưu ý là biên bản này phải có chữ ký của người yêu cầu thi hành án và người lập biên bản để xác nhận việc yêu cầu thi hành án của đương sự.

Bước 2: Cơ quan thi hành án nhận đơn và giải quyết

Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền nhận đơn hoặc lập biên bản về các nội dung yêu cầu thi hành án; ra quyết định thi hành án và gửi quyết định thi hành án cho các đương sự; tiến hành các thủ tục thi hành án theo quy định của pháp luật: thông báo tự nguyện cho đương sự; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức cưỡng chế thi hành án và xử lý tài sản; thanh toán tiền thi hành án hoặc giao tài sản; thu phí thi hành án.

Bước 3: Kết thúc thi hành án

Người được thi hành án nhận tiền hoặc tài sản thi hành án và nộp phí thi hành án.

b. Thành phần hồ sơ yêu cầu:

Đơn yêu cầu thi hành án hoặc biên bản ghi nhận yêu cầu thi hành án;

Bản án, quyết định được thi hành (bản chính), đối với bản án, quyết định của tòa án thì có ghi "để thi hành" hoặc “có hiệu lực pháp luật” hoặc các văn bản tài liệu chứng minh bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành.

c.Thời hạn giải quyết yêu cầu:

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án và tiến hành các trình tự thi hành án theo quy định của pháp luật

d. Kết quả thực hiện: Các quyết định về thi hành án dân sự

e. Phí: phí thi hành án (tính theo giá trị tài sản mà người được thi hành án nhận được)

*Lưu ý:

Thứ nhất, để có căn cứ để xem xét thi hành án khi yêu cầu thi hành án người yêu cầu có nghĩa vụ phải cung cấp cho cơ quan THADS bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và các tài liêu khác có liên quan nếu có như : văn bản thoả thuận giữa các bên về việc thi hành án, kết quả hai bên thực hiện thoả thuận; tài liệu chứng minh đương sự có điều kiện thi hành án.. .

Thứ hai, cần lưu ý về ngày yêu cầu thi hành án dân sự, bởi đây là căn cứ để xác định đương sự yêu cầu thi hành án dân sự có đúng hạn hay không. Cách xác định như sau: ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi được coi là ngày gửi đơn yêu cầu thi hành án. Từ ngày đó tính ngược trở lại nếu nhỏ hơn hoặc bằng 05 năm thì việc yêu cầu thi hành án được coi là còn trong thời hiệu yêu cầu thi hành án, đơn yêu cầu thi hành án được coi là hợp lệ về mặt thời hiệu. Nếu vượt qua thời hạn 05 năm, nghĩa là yêu cầu thi hành án khi thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết đương sự sẽ mất quyền, nghĩa vụ hợp pháp của mình.

4. Trách nhiệm của Cơ quan THADS khi nhận được yêu cầu THADS

a. Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự:

Cơ quan THADS phải kiểm tra nội dung đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo. Nếu thấy đơn yêu cầu chưa có đủ nội dung, nội dung chưa rõ ràng hoặc chưa đủ tài liệu kèm theo thì phải yêu cầu đương sự bổ sung . Việc nhận đơn yêu cầu thể hiện bằng việc vào sổ nhận yêu cầu THADS và thông báo cho đương sự biết về việc đã nhận đơn yêu cầu. Luật THADS chưa nói rõ việc xác nhận nhận đợn cho đương sự như thế nào? Luật THADS 2008 có hướng dẫn điều này nhưng khi sửa đổi năm 2014 thì việc này đã được loại bỏ. Thiết nghĩ cần quy định việc xác nhận cho đương sự rằng đã nhận được đơn thông qua giấy biên nhận đơn; nếu nhận đơn qua đường bưu điện thì phải gửi cho đương sự giấy biên nhận đơn. Để khi có vấn đề gì xảy ra như cơ quan thi hành án nhận đơn nhưng không xử lý THADS theo yêu cầu cho đương sự thì đương sự có căn cứ để khiếu nại cơ quan THADS.

b. Sau khi nhận đơn:

Người nhận đơn có trách nhiệm chuyển đơn cho Thủ trưởng cơ quan thi hành án để xử lý và xem xét ra quyết định thi hành án. Và căn cứ điều 36 Luật THADS thì có hai loại quyết định là quyết định THADS do người có thẩm quyền chủ động ra quyêt định và quyết định THADS theo đơn yêu cầu. Theo quy định của pháp luật thì hành án dân sự thì đa phần các bản án, quyết định của Tòa án chỉ được ra quyết định thi hành khi có đơn yêu cầu của đương sự. Quy định này nhằm bảo đảm quyền định đoạt của các đương sự. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành án phù hợp với nội dung yêu cầu thi hành án của đương sự. Nhưng khi nào phân công chấp hành viên để xử lý yêu cầu thi hành án không được quy định rõ.

Bên cạnh đó, có một số bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành mà không cần có đơn yêu cầu của đương sự. Như trường hợp vì tính cấp thiết của bản án, quyết định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án ngay như đối với quyết định áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời và phân công chấp hành viên thi hành. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải thi ngay các biện pháp khẩn cấp tạm thời ; hoặc ra quyết định thi hành sau 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mà không cần đơn yêu cầu của đương sự như thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.