THỦ TỤC TÁI THẨM TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

21 /032018

THỦ TỤC TÁI THẨM TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

Pháp luật nước ta luôn tuân theo nguyên tắc hai cấp xét xử để đảm bảo cho bản án ra đúng pháp luật, đúng người và đúng lỗi. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà các bản án, quyết định của Tòa án tuyên đều đúng pháp luật cho nên pháp luật quy định về việc Tòa án được xét lại theo thủ tục tái thẩm khi có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Điều 304 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) quy định, tái thẩm là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự nhằm xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện thấy những tình tiết mới quan trọng liên quan trực tiếp đến việc xem xét và giải quyết vụ án mà Tòa án hoặc đương sự trước đó không thể biết. Như vậy, một bản án, quyết định của Tòa án được ban hành đã có hiệu lực pháp luật tuy nhiên vì nhiều lý do khách quan, chủ quan mà sau đó mới phát hiện ra tình tiết mới quan trọng làm thay đổi cả nội dung của quan hệ pháp luật đã được giải quyết mà đương sự không biết được. Theo đó các tình tiết mới ở đây phải thỏa mãn ba tiêu chí đó là:

Thứ nhất, tình tiết mới đó được phát hiện phải là tình tiết đã có vào lúc tòa án giải quyết vụ án mà tòa án và đương sự dã không thể biết được.

Thứ hai, tình tiết mới đó được phát hiện phải là những tình tiết quan trọng , liên quan đến vụ án, làm thay đổi nội dung vụ án , làm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó không có căn cứ và hợp pháp.

Thứ ba, tình tiết mới đó phải là tình tiết mà cần được tòa án xác định qua thủ tục tái thẩm. Những tình tiết mới này nó có ý nghĩa xác định sự thật của vụ án, làm rõ hơn quan hệ pháp luật đang tranh chấp vì vậy cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền khiếu nại, hoặc đề nghị cho chủ thể có thẩm quyền để tiến hành kháng nghị theo thủ tục tái thẩm để đảm bảo việc công bằng trong xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hay nói cách khác là bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

1. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Pháp luật tố tụng dân sự quy định khi có một trong các căn cứ tại Điều 352 BLTTDS thì mới có thể kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, bởi khi có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó. Việc làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là sự thay đổi hoàn toàn hoặc tương đối nhiều về nội dung nào đó của bản án hoặc quyết định đó. Nếu những tình tiết mới chỉ có giá trị làm thay đổi một nội dung nào đó không cơ bản của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì chúng không được coi là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Điều 352 BLTTDS đã quy địnhkhá cụ thể về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cụ thể như sau:

Thứ nhất, Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án; “Tình tiết quan trọng” trong căn cứ này phải là những tình tiết làm thay đổi nội dung của vụ án. Ví dụ: trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế các đương sự không biết được người để lại di sản thừa kế đã lập di chúc để lại toàn bộ khối di sản cho người con cả, nên vụ án đã được giải quyết theo pháp luật. Nữa năm sau người con út mới phát hiện ra di chúc. Việc phát hiện ra di chúc là tình tiết mới quan trọng làm thay đổi bản chất của vụ án. Bản án nếu so với di chúc thì khác nhiều và kết luận của bản án đã làm thiệt hại đến lợi ích của thừa kế được chỉ định trong di chúc. Đây là tình tiết quan trọng để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Thứ hai, Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ. Trong một số trường hợp khi giải quyết vụ án cần sự tham gia của người giám định, người phiên dịch nhưng họ lại làm không đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình gây sai lầm khi giám định, công bố giám định hay dịch lời làm sai lệch chứng cứ, không đúng sự thật làm vụ án được giải quyết theo hướng không đúng sự thật.

Thứ ba, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật. Cần phân biệt căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” với căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm “…cố ý kết luận trái pháp luật”. “Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” và “cố ý kết luận trái pháp luật” đều là áp dụng pháp luật không đúng, nhưng căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là xuất phát từ việc nhận thức của Thẩm phán về việc áp dụng pháp luật. Thẩm phán cho rằng mình áp dụng pháp luật là đúng nhưng thực tế là không đúng. Còn căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là Thẩm phán biết rõ việc kết luận của mình là không đúng pháp luật nhưng vẫn cứ kết luận. Đây là những trường hợp hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, các tình tiết trong vụ án và pháp luật rõ ràng, nhưng Thẩm phán lại xử không đúng pháp luật.

Thứ tư, Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Toà án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ.

2. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Pháp luật tố tụng dân sự đã quy định một số chủ thể có thẩm quyền được kháng nghị để tòa án xét lại theo thủ tục đặc biệt khi phát hiện sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án cấp dưới hoặc khi phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án mà tòa án, đương sự không biết được trong quá trình xét xử. Để đảm bảo bản án được ổn định tránh việc kháng nghị một các tràn lan thì chỉ những người này mới có quyền kháng nghị. Đương sự có quyền khiếu nại, thông báo đến chủ thể có thẩm quyền nếu phát hiện những sai lầm, vi phạm pháp luật. Những người có thẩm quyền kháng nghị sẽ kiểm tra và sàng lọc những đơn khiếu nại đó để đảm bảo được việc khiếu nại đó là đúng đắn. Trước khi tiến hành kháng nghị thì chủ thể có thẩm quyền phải nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án, để tránh kháng nghị sai lầm một làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháo của đương sự Hệ quả của việc kháng nghị là tòa án sẽ xem xét lại theo thủ tục đặc biệt và tạm đình chỉ thi hành án hoặc hoãn thi hành án làm sao bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Theo quy định tại Điều 354 BLTTDS thì các chủ thể sau có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

3. Thủ tục thực hiện

Bước 1: Phát hiện và thông báo về tình tiết mới, theo quy định tại Điều 354 của BLTTDS:

Người có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị: Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Tòa án, Viên kiểm sát nhận được thông báo hoặc tự mình phát hiện.

Người có thẩm quyền kháng nghị: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Thời hạn kháng nghị: 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của BLTTDS và không được gia hạn để đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyện vọng của người dân.

Bước 2: Quyết định hoãn hoặc tạm ngừng thi hành án

Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm. quy định ở điều 332 BLTTDS 2015 quy định người có thẩm quyền kháng nghị có quyền hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án. Cụ thể: trong trường hợp cần phải hoãn việc thi hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực để xem xét việc kháng nghị thì người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án hoãn việc thi hành án, quyết định của tòa án để xem xét kháng nghị , người đã kháng nghị bản án có quyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định của tòa án cho đến khi có quyết định tái thẩm. Quy định như vậy là nhằm khắc phục tình trạng bản án, quyết định đã được đưa ra thi hành rồi thì mới kháng nghị thì quyền lợi của đương sự sẽ không được đảm bảo, tốn chi phí, công sức. Việc khắc phục và giải quyết hậu quả thi hành án cũng rất khó khăn. Vì vậy quy định người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án để bảo đảm quyền con người, quyền công dân một cách tốt nhất.

Bước 3: Phiên tòa tái thẩm

a. Chuẩn bị mở phiên tòa

Căn cứ Điều 339 BLTTDS thì trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được Quyết định kháng nghị tái thẩm, người có thẩm quyền tái thẩm sẽ phải mở phiên toà để xem xét lại vụ việc

Những người tham gia phiên toà tái thẩm ngoài sự có mặt bắt buộc của Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng giám sát hoạt động áp dụng và tuân theo pháp luật thì “khi xét thấy cần thiết, Toà án triệu tập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm”

Phiên toà tái thẩm gồm các thẩm phán được thành lập gọi là “Hội đồng xét xử tái thẩm". Và chậm nhất là bảy ngày trước ngày mở phiên toà tái thẩm. Các thành viên của Hội đồng xét xử tái thẩm sẽ thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Sau đó Hội đồng xét xử tái thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án.

b. Tiến hành phiên tòa

Trình tự, thủ tục phiên tòa tái thẩm không như một phiên tòa. Theo quy định tại Điều 341 BLTTDS thì: Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng xét xử tái thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị;

Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa tái thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng xét xử tái thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử tái thẩm công bố ý kiến của họ;

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án. Sau đó các thành viên Hội đồng xét xử tái thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử tái thẩm nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tái thẩm ban hành quyết định chứ không ra bản án.

Như vậy, phiên toà tái thẩm được tiến hành với hình thức như một cuộc họp mà không tiến hành công khai. Nếu người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập nhưng vắng mặt, phiên toà vẫn được tiến hành.

Cuối cùng Hội đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền ra một trong các quyết định sau đây :

- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định.

- Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.