THỦ TỤC HÒA GIẢI VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

01 /022018

THỦ TỤC HÒA GIẢI VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

1. Các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Chuẩn bị xét xử là giai đoạn rất quan trọng trong tố tụng, bởi tại giai đoạn này Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, từ đó xác định được đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Khi đã xác định được các đương sự trong vụ án, Toà án có thể yêu cầu họ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác lại yêu cầu của đương sự khác. Nếu cần phải bổ sung chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án. Đồng thời, các công việc cần thực hiện khi tiến hành giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì các công việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm VADS chủ yếu của Tòa án bao gồm: phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự ; Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải quyết định đưa vụ án ra xét xử;

Và tùy từng trường hợp thì Tòa án ra một trong các quyết định cơ bản nhưng quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sau đây:

- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy hỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng; hay

- Đưa vụ án ra xét xử.

Từ đó góp phần tiến hành giải quyết vụ án

Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

- Những tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của BLTTDS có thời hạn chuẩn bị xét xử là: 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng. Như vậy thời hạn tối đa chuẩn bị xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình thông thường tổng cộng là 06 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

- Những tranh chấp về kinh doanh thương mại, lao động quy định tại Điều 30 và Điều 32 của BLTTDS có thời hạn chuẩn bị xét xử là: 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng. Như vậy thời hạn tối đa chuẩn bị xét xử sơ thẩm các vụ án về kinh doanh thương mại, lao động thông thường là 03 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

2. Hòa giải trong vụ án dân sự

Hoà giải là hoạt động tố tụng bắt buộc của Toà án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. được quy định tại Điều 10 và Điều 205 BLTTDS. Về nguyên tắc hòa giải là sự thỏa thuận của đương sự, giữa các bên liên quan có tranh chấp xảy ra và trong quá trình hòa giải bắt buộc phải có sự tham gia của một bên gọi là bên thứ ba không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bên trung lập) để giải thích, tư vấn và công nhận sự hòa giải thành của các bên trong tranh chấp. Theo đó, Hòa giải là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thảo thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự.

Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, Toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Với tư cách là cơ quan xét xử của nhà nước, Toà án phải chủ động trong việc hoà giải để giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ án nào Toà án cũng phải tiến hành hoà giải, các vụ án thuộc trường hợp những VADS không được hoà giải (Điều 206 BLTTDS) và những vụ án không tiến hành hoà giải được (Điều 207 BLTTDS) thì Toà án không tiến hành hoà giải. Các đương sự được tự do thỏa thuận hòa giải, không bị ai dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của họ, đồng thời các thỏa thuận đó phải phù hợp quy định pháp luật, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

a. Nguyên tắc hòa giải vụ án dân sự

Trong tố tụng dân sự pháp luật tôn trọng ý chí tự nguyện và sự thỏa thuận của các bên nên BLTTDS quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự , trừ một số vụ việc về đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; hay Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải; hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn .

Theo đó Khoản 1 Điều 205 BLTTDS quy định thì Tòa án có nghĩa vụ bắt buộc tiến hành hòa giải trước phiên tòa sơ thẩm, trừ những vụ án theo quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, từ sau khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm. Tòa bắt buộc phải tổ chức hòa giải dù việc hòa giải có khả năng thành công hay không, bởi nếu Tòa án không tiến hành hòa giải thì coi như đã vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng và sẽ căn cứ kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm để hủy án và xét xử sơ thẩm lại. Việc quy định bắt buộc Tòa án tổ chức hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các đương sự giải quyết tranh chấp một cách ổn thỏa, nếu hòa giải thành Tòa án sẽ không cần mở phiên tòa sơ thẩm và có thể không cần phát sinh các giai đoạn tố tụng tiếp theo.

Việc hòa giải được tiến hành trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 205 BLTTDS thì việc hòa giải phải xuất phát từ sự tự nguyện thực sự của các đương sự trong việc tự nguyện tham gia hòa giải và cả tự nguyện trong thỏa thuận nội dung giải quyết tranh chấp. Bởi đương sự có quyền lựa chọn tham gia thỏa thuận hay không, như trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng thì xem như họ từ chối tham gia hòa giải, Tòa án sẽ lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Bên cạnh đó sự tự nguyện còn thể hiện ở nội dung thỏa thuận, khi hòa giải các đương sự được tư do bàn bạc, thảo luận và thống nhất cách giải quyết tranh chấp do ý chí các bên. Nhưng nếu sự thống nhất đó là do sự dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí chủ quan của họ thì không được coi là tự nguyện thỏa thuận.

Đồng thời mặc dù là các đương sự được tự do, tự nguyện thỏa thuận nhưng sự thỏa thuận đó không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, mà phải phù hợp quy định pháp luật.

b. Tiến hành hòa giải

Tòa án tiến hành hòa giải thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Các chủ thể trong hòa giải hòa giải

Thứ nhất, chủ thể tiến hành hòa giải

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 209 BLTTDS thì chủ thể tiến hành hòa giải bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp hòa giải, với nhiệm vụ được quy định tại Điều 210 BLTTDS như kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ, phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành, kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất; Và

Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải với đầy đủ nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 211 BLTTDS

Thứ hai, chủ thể tham gia hòa giải

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 209 BLTTDS thì chủ thể tham gia hòa giải bao gồm: Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động; Đây là các chủ thể liên quan trực tiếp đến tranh chấp, họ là người quyết định hướng giải quyết cho tranh chấp của họ. Ngoài ra còn có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có).

* Thủ tục hòa giải vụ án dân sự

Bước 1: Triệu tập đương sự

Chủ thể có thẩm quyền triệu tập: Thẩm phán.

Đối tượng được triệu tập: đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 208 BLTTDS thì trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung vấn đề hòa giải tại phiên họp. Thủ tục tống đạt thông báo thực hiện theo quy định từ Điều 170 đến Điều 181 BLTTDS về cấp, tống đạt thông báo văn bản tố tụng. Bởi việc hòa giải là bước để các đương sự có thể hòa giải, thỏa thuận giải quyết tranh chấp được với nhau trước khi đưa ra xét xử nên việc thông báo cho các đương sự về việc hòa giải là bắt buộc thực hiện. Qua đó các đương sự có thể chuẩn bị trước nội dung, phương án hòa giải.

Việc thông báo phiên họp cũng là căn cứ để giải quyết khi cá đương sự vắng mặt, không tham gia phiên họp:

a. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 207 BLTTDS thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử.

b. Theo nguyên tắc thì khi hòa giải cần có sự có mặt đày đủ của các đương sự nhưng trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt thì Tòa án hoãn phiên họp hòa giải, trừ các trường hợp sau:

Thứ nhất, vụ án có nhiều quan hệ pháp luật và không liên quan đến tất cả các đương sự thì thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt.

Thứ hai, vụ án có nhiều quan hệ pháp luật và liên quan đến tất cả các đương sự thì Tòa án sẽ tiến hành hòa giải khi thỏa mãn hai điều kiện:

(1) các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp; và

(2) việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt;

Còn nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.

Bước 2: Tổ chức phiên họp hòa giải

Theo quy định tại Điều 210 BLTTDS thì:

Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phien họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ và hỏi để xác nhận với các đương sự về yêu cầu khởi kiện của họ, những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án và các vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.

Khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; các bên trình bày ý kiến của mình và Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.

Kết thúc phiên họp, Thư ký phiên họp lập biên bản về việc hòa giải với các nội dung chính quy định tại Khoản 3 Điều 211 BLTTDS và có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp để xác nhận tính pháp lý của biên bản

Bước 3: Xử lý kết quả hòa giải

(i) Trường hợp hòa giải không thành

Nếu có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 214 và Điều 217 BLTTDS tương ứng từng trường hợp. Nếu không có căn cứ đình chỉ hay tạm đình chỉ thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 BLTTDS.

(ii) Trường hợp hòa giải thành

Hòa giải thành có nghĩa là các bên đã thỏa thuận được toàn bộ nội dung vụ án và án phí thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành. Tuy nhiên biên bản nầy chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà chỉ ghi lại sự thỏa thuận của các bên trong phiên hòa giải. Theo đó, khi hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Như vậy, Thẩm phán ra quyết đinh công nhận hòa giải thành khi có các căn cứ sau:

- Các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án , bao gồm án phí là 50% án phí sơ thẩm.

- Các đương sự không thay đổi ý kiến về thỏa thuận theo hướng phản đối thỏa thuận đã lập và ghi trong biên bản hòa giải.

Ngoài ra đối với các vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt tại phiên họp hòa giải và các đương sự còn lại đồng ý tiếp tục tiến hành phiên họp đó mà không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản .

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án cùng các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi chủ thể nhằm mục đích chung là giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Ở giai đoạn này, Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết và quan trọng có ý nghĩa cho toàn bộ hoạt động giải quyết vụ án ở các giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Trong đó, hòa giải là thủ tục rất cần thiết để tạo điều kiện cho các bên có cơ hội thương lượng, hòa giải, với sự tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ của Tòa án để các bên có thể thỏa thuận một cách tự nguyện nhanh chóng bởi ý chí tự nguyện của các bên. Như việc thi hành án sẽ được tiến hành thuận lợi, hạn chế áp dụng biện pháp cưỡng chế với bên có nghĩa vụ, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án vì không cần mở phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.