THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

17 /032018

THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Thủ tục giám đốc thẩm (GĐT) là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự. Bởi thủ tục này chỉ được tiến hành khi có đơn kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại Điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) sau đây thì khi có các điều kiện sau thì việc giám đốc thẩm mới được tiến hành: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; đặc biệt đây không phải là một cấp xét xử nên không phải mọi kháng nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm khi phát hiện có vi phạm pháp luật về giải quyết vụ án mà chỉ khi nó là vi phạm nghiêm trọng dẫn đến việc ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc thiếu tính khách quan; Có kháng nghị của người có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Và GĐT là một thủ tục đặc biệt, không phải là một cấp xét xử, do đó trình tự, thủ tục tố tụng giai đoạn này khác với trình tự, thủ tục tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.

1. Kháng nghị giám đốc thẩm

a. Căn cứ kháng nghị

Căn cứ Điều 326 BLTTDS thì khi có một trong các căn cứ sau đây thì bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

Thứ nhất, Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; Điều này được hiểu là trong phần xét thấy, trong phần quyết định của bản án hoặc quyết định của bản án hoặc quyết định có những vấn đề không phù hợp, không đồng nhất với những tình tiết khách quan đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà hoặc những tình tiết khách quan đã được làm rõ tại phiên toà qua xét hỏi, tranh luận. Quyết định của Tòa án trong bản án, quyết định đã không phản ánh đầy đủ, toàn diện về sự thật của vụ việc.

Thứ hai, Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trong quá trình áp dụng thủ tục tố tụng, Tòa án đã áp dụng không đúng các quy định,vi phạm các nguyên tắc của của BLTTDS trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Mức độ vi phạm phải là nghiêm trọng, dẫn đến bản án, quyết định được Tòa án ra không đúng pháp luật, thiếu tính khách quan, công bằng.

Thứ ba, Tòa án đã có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật vào nội dung vào việc giải quyết vụ việc dân sự, dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng với bản chất sự việc đó, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Sai lầm này có thể đến từ việc áp dụng điều luật, văn bản pháp luật không đúng, đã hết hiệu lực pháp luật hoặc xác định sai loại quan hệ pháp luật phải áp dụng.

Theo quy định tại Điều 327 BLTTDS thì trong thời hạn 01 năm , kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy định này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị

b. Người có thẩm quyền kháng nghị

Căn cứ Điều 331 BLTTDS thì thẩm quyền kháng nghị GĐT được định cho các chức danh: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Cơ sở để các chủ thể này kháng nghị dựa vào công tác GĐT của ngành Tòa án, khiếu nại của đương sự, từ phương tiện thông tin đại chúng và các nguồn khác.

Theo quy định tại Điều 322 BLTTDS thì Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định một lần để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tránh hậu quả không thể khắc phục được. Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án. Ngoài ra Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm. Việc thi hành án sẽ được tiếp tục khi cơ quan thi hành án dân sự nhận được quyết định GĐT của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị.

c. Hình thức kháng nghị

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì hình thức kháng nghị là phương tiện để các chủ thể có thẩm quyền thể hiện quyền kháng nghị theo thủ tục GĐT của mình. Theo đó, các chủ thể kháng nghị theo thủ tục GDT phải kháng nghị bằng văn bản. Đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính. Người đã kháng nghị GĐT có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết hạn kháng nghị.

d. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiế trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.

2. Phiên tòa giám đốc thẩm

a. Chuẩn bị mở phiên tòa

Căn cứ Điều 339 BLTTDS thì trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ phải mở phiên toà để giám đốc thẩm vụ án.

Những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm ngoài sự có mặt bắt buộc của Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng giám sát hoạt động áp dụng và tuân theo pháp luật thì “khi xét thấy cần thiết, Toà án triệu tập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm” .

Phiên toà giám đốc thẩm gồm các thẩm phán (3 hoặc 5 vị) được thành lập gọi là “Hội đồng giám đốc thẩm’. chậm nhất là bảy ngày trước ngày mở phiên toà giám đốc thẩm. Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm sẽ thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Sau đó Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án.

b. Tiến hành phiên tòa

Trình tự, thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm không như một phiên tòa. Theo quy định tại Điều 341 BLTTDS thì: Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị;

Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ;

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án. Sau đó các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa. Hội đồng GĐT ban hành quyết định chứ không ra bản án.

Quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành. Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết theo trình tự tán thành, không tán thành với kháng nghị và các ý kiến khác; nếu không có trường hợp nào được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà. Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà, Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán phải tiến hành xét xử lại với sự tham gia của toàn thể các thành viên.

Như vậy, phiên toà giám đốc thẩm được tiến hành với hình thức như một cuộc họp mà không tiến hành công khai. Nếu người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập nhưng vắng mặt, phiên toà vẫn được tiến hành. Hầu hết các phiên toà giám đốc thẩm không có mặt những người tham gia tố tụng như: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người thẩm, phúc thẩm.

Giám đốc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Đây là một thủ tục đặc biệt, không phải một cấp xét xử để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải xét xử lại các bản án, quyết định đó. Và đặc biệt chủ thể làm phát sinh thủ tục GĐT chỉ có một số người có thẩm quyền nhất định, đứng đầu trong ngành Tòa án và Viện Kiểm Sát theo quy định của pháp luật. Cuối cùng thủ tục GĐT không mở công khai, bởi chỉ xem xét lại trên cơ sở kháng nghị của những người có thẩm quyền.Trên cơ sở hồ sơ vụ án, Hội đồng GĐT đưa ra quyết định về việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị, đường lối xử lý vụ việc.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.