THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

24 /032018

THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, khi phát hiện có kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình hoặc có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật, thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị để sửa chữa, khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới. Nhưng có trường hợp quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có sai lầm nghiêm trọng hoặc có chứng cứ mới làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì Hội đồng thẩm phán TAND tối cao được tự mình xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có sai lầm nghiêm trọng.

1. Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Theo quy định tại Điều 358 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) quy định về quyền và nghĩa vụ yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:

Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với tư cách là người đứng đầu cơ quan có chức năng giám sát hoạt động tư pháp và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, người lãnh đạo cao nhất của ngành Tòa án cũng có thể kiến nghị, đề nghị Hội đồng Thẩm phán xem xét lại quyết định của mình. Chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận và thực hiện: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ thực hiện thủ tục đặc biệt:

Một là, việc xem xét lại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao bao gồm các trường hợp sau:

- Có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng

- Phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó;

Hai là, các cơ quan có thẩm quyền kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao bao gồm:

(1) Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

(2) Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;

(3) Viện trưởng VKSND tối cao;

(4) Chánh án TAND tối cao.

2. Thủ tục thực hiện

Thứ nhất, tiếp nhận yêu cầu, đề nghị và gửi yêu cầu cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Căn cứ khoản 1 Điều 359 BLTTDS thì Tòa án nhân dân tối cao phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị, yêu cầu, sau khi nhận được yêu cầu, đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ hai, mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị.

a. Thời hạn thực hiện:

Là 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị.

b. Thành phần tham dự:

- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Bắt buộc có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.

Việc xem xét kiến nghị, đề nghị theo trình tự tại Điều 359 BLTTDS như sau:

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án;

Tiếp đến, Đại diện các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao trình bày về nội dung kiến nghị, đề nghị;

Kế tiếp, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nếu nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

  1. phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu. Đặc biệt phiên họp này phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật khi tiến hành phiên họp và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Căn cứ Điều 360 BLTTDS thì sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có) và khi xét thấy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định thì tùy từng trường hợp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định như sau khi được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành:

- Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;

- Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của pháp luật;

- Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.

Thủ tục đặc biệt là một thủ tục quan trọng để xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có trường hợp quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có sai lầm nghiêm trọng hoặc có chứng cứ mới làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì Hội đồng thẩm phán TAND. Bên cạnh đó, Việc quy định cơ chế cho phép Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tự xem xét lại quyết định của mình là không trái với quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014, vì quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không bị kháng nghị mà đây là thủ tục Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tự xem xét lại quyết định của mình khi có yêu cầu của một số chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, mặt khác theo nguyên tắc hai cấp xét xử, một vụ án chỉ được giải quyết qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Thêm vào đó là cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm được coi là những thủ tục tố tụng đặc biệt. Việc quy định cơ chế xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao vô hình chung đã thiết lập thêm một thủ tục đặc biệt nữa nhằm cho phép Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có thể xét lại chính quyết định của mình. Trong khi đó, về căn bản thì thủ tục đặc biệt này vẫn dựa trên các căn cứ xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật giống như thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Nội dung quyết định không có sự khác biệt với quyết định giám đốc thẩm bình thường theo quy định của pháp luật tố tụng. Hậu quả pháp lý của việc ra quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao là vụ án có thể sẽ tiếp tục bị đưa ra xem xét, giải quyết ở cấp dưới, thậm chí xét xử lại ở cấp sơ thẩm. Điều này vi phạm nguyên tắc "toà án xét xử theo 2 cấp", khiến cho việc xét xử không có điểm dừng, vì thế quá trình xét xử có thể lập đi lặp lại, khiến cho các bên trong quan hệ tố tụng đều mệt mỏi, gây tốn kém chi phí cho cả Nhà nước và người dân, tạo sự quá tải của toà án và sự chậm trễ trong thực thi công lý.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.