Luật Dân sự

Thời hiệu khởi kiện và mất quyền khởi kiện một vụ án dân sự được luật quy định như thế nào?

Thời hiệu nói chung có thể được hiểu là căn cứ để xác lập hoặc xóa bỏ một quyền, nói cách khác thời hiệu là khoản thời gian để thực hiện quyền hoặc được miễn trừ nghĩa vụ. Vậy thời hiệu khởi kiện và mất quyền khởi kiện một vụ án dân sự được luật quy định như thế nào? Áp dụng ra sao? Bài viết dưới đây, Chuyên tư vấn luật sẽ có những chia sẻ liên quan đến thời hiệu khởi kiện và mất quyền khởi kiện một vụ án dân sự được luật quy định như thế nào. Quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Quy định về thời hiệu khởi kiện

Quy định pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) thì thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thep khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

Quan điểm áp dụng

Với quy định như trên, hiện tại xuất hiện hai quan điểm như sau:

  • Ý kiến thứ nhất dựa theo quy định tại khoản 2 Điều 149 BLDS 2015, người bị mất quyền khởi kiện vẫn được quyền nộp đơn khởi kiện, Tòa án vẫn phải xem xét, thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự khi có ít nhất đề nghị của bị đơn và bị đơn phải đưa ra đề nghị này trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Nếu bị đơn không đề nghị áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thì Tòa án vẫn thụ lý, giải quyết vụ án dân sự.
  • Ý kiến thứ hai thì cho rằng quy định tại khoản 2 Điều 149 BLDS mâu thuẫn và vô hiệu hóa quy định tại khoản 3 Điều 150 của Bộ luật này. Bởi lẽ: theo quy định tại khoản 3 Điều 150 BLDS, thì việc nộp đơn khởi kiện là để thực hiện quyền khởi kiện trong một thời gian cụ thể mà luật cho phép. Do đó, khi thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự vẫn còn, mà người có quyền khởi kiện tiến hành nộp đơn khởi kiện, thì người này được gọi là “người khởi kiện” hoặc “nguyên đơn” nếu Tòa án thụ lý đơn khởi kiện.

Quy định về quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện là quyền của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, cụ thể theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có các điều kiện sau:

  • Chủ thể khởi kiện có quyền khởi kiện và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
  • Vụ án được khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
  • Còn thời hiệu khởi kiện (theo quy định tại khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc)
  • Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ  quan nhà nước có thẩm quyền

>>> Xem thêm: Khi nào không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Đương sự có bị mất quyền khởi kiện khi hết thời hiệu?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Theo đó, khi không có yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu hoặc yêu cầu này được đưa ra sau khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc thì Tòa án vẫn phải thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết theo thủ tục luật định. Quyền khởi kiện của đương sự

Quyền khởi kiện của đương sự

Tòa án có được quyền trả đơn khởi kiện khi cho rằng đương sự mất quyền khởi kiện do hết thời hiệu?

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 thì luật không quy định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời thời hiệu khởi kiện đã hết. Vì vậy, Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện. Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 thì sau khi đã thụ lý vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhưng có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

Thực tiễn xét xử một số vụ án và kiến nghị

Bản án 76/2018/DS-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối.

Tóm tắt vụ án

“Năm 2004 ông Nguyễn Dương K và vợ là Cao Thị Mỹ L có sang nhượng cho bà M một phần đất có diện tích 465,50m2 tọa lạc tại thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Tại thời điểm các bên làm thủ tục sang nhượng phần đất trên thì bà M giao toàn bộ cho ông K, bà L đi làm thủ tục chuyển nhượng. Trong quá trình làm thủ tục thì bà L tự ký tên thay cho ông K, bà M và ông Mai Văn N (đóng giả là chồng bà M, chồng thật của bà M là Trương Văn H). Bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hộ gia đình cấp ngày 04/5/2004. Đến năm 2017 bà M cần bán phần đất trên thì được biết đất được cấp cho hộ gia đình và tại thời điểm mua đất năm 2004 thì ông Mai Văn N là chồng bà M nên không thể bán phần đất trên được. Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà và vợ chồng ông K, bà L được lập ngày 08/4/2004 là vô hiệu do có sự lừa dối.”

Nhận định của Tòa án

Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối là 2 năm tính đến nay thì thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc… Trong quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu, do đó Tòa án vẫn tiến hành thụ lý, xét xử theo thủ tục luật định và xem xét yêu cầu khởi kiện của bà M. Dựa trên các quy định hiện hành của khoản 2 Điều 149 BLDS 2015, khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 và điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017, Tác giả hoàn toàn đồng ý với cách giải quyết này của Tòa án.

Quyết định của Tòa án

Chấp nhận một phần yêu cầu của Bà Nguyễn Thị X. Hộ ông Mai Văn Bé C, Mai Thị Thu H, Mai Thị Mỹ H1, Mai Trung Th, Mai Trung H2 bồi thường cho bà X 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà X đòi hộ ông C bồi thường thiệt hại 13.000.000đ. Không chấp nhận, Bà Nguyễn Thị X kháng cáo đối với Bản án sơ dân sự thẩm số: 61/2018/DS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M2, tỉnh Đồng Tháp, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, buộc hộ ông C bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000đ.” Tòa nhận định “Tại phiên tòa phúc thẩm ông N đại diện cho bà X xác định rằng ông C lấn chiếm đất và xảy ra tranh chấp từ năm 2007-2008, nhưng đến năm 2012 bà X mới khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp ranh đất, việc bà X yêu cầu bồi thường thiệt hại từ năm 2007 đến 2017 là chưa phù hợp. Với việc áp dụng pháp luật còn khác nhau của các Tòa án có thể thấy rằng cần có những quy định thống nhất hơn về thời hiệu khởi kiện, hoặc những văn bản hướng dẫn phù hợp để giúp xác định chính xác về áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để đảm bảo không còn phải lúng túng khi xác định.

Thủ tục khiếu nại quyết định trả đơn khởi kiện của tòa án

Thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại tại Tòa án trả lại đơn khởi kiện 

Theo khoản 22 Điều 70 và khoản 1 Điều 194 BLTTDS 2015 đương sự có quyền khiếu nại quyết định trả lại đơn khởi kiện của Tòa án.

  • Thời hạn nộp đơn: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện (khoản 1 Điều 194 BLTTDS 2015)
  • Người khởi kiện nộp đơn khiếu nại đến Tòa án (đơn khiếu nại trình bày rõ các nội dung quy định tại Điều 503 BLTTDS 2015)
  • Ngay sau khi nhận được đơn khiếu nại, chánh án phân công một thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại
  • Thẩm phán mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại. Có sự tham gia của đại diện viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự khiếu nại tại phiên họp thẩm phán phải ra một trong các quyết định:

  • Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự
  • Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại ở Chánh án Tòa án trên một cấp 

Thẩm phán xem xét đơn khiếu nại

Thẩm phán xem xét đơn khiếu nại

Thủ tục thực hiện khiếu nại và giải quyết khiếu nại ở Chánh án Tòa án trên một cấp (khoản 5,6 Điều 194 BLTTDS 2015) Thời hạn nộp đơn: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án trên một cấp Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại Chánh án phải ra một trong các quyết định:

  • Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện
  • Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án

Quyết định của Chánh án có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người khởi kiện và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện

Thủ tục thực hiện khiếu nại và giải quyết khiếu nại ở Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao/ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (khoản 7 Điều 194 bLTTDS 2015)

Thời hạn nộp đơn: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án cấp trên một cấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì đương sự có quyền khiếu nại:

  • Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án tòa án nhân dân cấp tỉnh
  • Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án tòa án nhân dân cấp cao

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự thì Chánh án phải ra quyết định. Quyết định của chánh án là quyết định cuối cùng.

>>> Xem thêm: Thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đai

>> Xem thêm: Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương mại

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn liên quan đến những vấn đề cần lưu ý về thời hiệu khởi kiện và mất quyền khởi kiện một vụ án dân sự được luật quy định như thế nào? Nếu như bạn có bất cứ vướng mắc nào hoặc có nhu cầu tìm hiểu thêm xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE 1900.63.63.87 để được hỗ trợ TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ. Xin cảm ơn./.

4.5 (14 bình chọn)

Bài viết được thực hiện bởi Lê Minh Phúc - Chuyên Viên Pháp Lý

Chức vụ: Chuyên viên pháp lý

Lĩnh vực tư vấn: Thừa Kế, Dân Sự, Đất Đai

Trình độ đào tạo: Đại học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 3 năm

Tổng số bài viết: 445 bài viết