THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

29 /122017

THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 và Điều 132 Luật thi hành án dân sự 2008 (Sửa đổi bổ sung 2014) thì biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là những biện pháp mang tính tạm thời được áp dụng trong trường hợp khẩn cấp để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Sở dĩ biện pháp này gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời vì tính khẩn cấp và tạm thời đặc trưng của nó, tính khẩn cấp thể hiện ở chỗ: Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) thực hiện ngay sau khi Tòa án ra quyết định , nếu không sẽ mất hết ý nghĩa, tác dụng. Tính tạm thời thể hiện ở chỗ: quyết định áp dụng BPKCTT chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này và BPKCTT đã được áp dụng sẽ bị cơ quan thi hành án đình chỉ thi hành khi có quyết định của Tòa án.

1. Căn cứ thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án là quyết định được thi hành theo quy định về thi hành án dân sự được quy định tại điểm b khoản 2 điều 2 Luật THADS. Đây án là các quyết định được ban hành trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Các quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án được thi hành theo thủ tục THADS, như: giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động; phong tỏa tài khoản của người có nghĩa vụ;... được quy định từ điều 114 đến điều 132 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2. Thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

a. Trình tự và biện pháp thi hành

Vì quyết định thi hành BPKCTT mang tính cấp bách nên khi ra quyết định áp dụng BPKCTT thì Tòa án đã ra quyết định phải chuyển giao cho cơ quan THADS ngay sau khi ra quyết định. Kể từ khi nhận được quyết định áp dụng BPKCTT do Tòa án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành. Theo quy đinh tại điều 130 Luật THADS thì trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế được Chấp hành viên áp dụng để BPKCTT được thi hành ngay. Các BPKCTT có thể được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng kể cả trường hợp Tòa án chưa thụ lý vụ án và được áp dụng cả trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án (bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án) nhằm chống lại các hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ, mua chuộc người làm chứng… qua đó bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự, bảo toàn được tình trạng tài sản, tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành án, quyết định của Tòa án sau này. Đồng thời đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống của họ và những người sống phụ thuộc họ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Theo điều 130 Luật thi hành án dân sự thì các biện pháp sau được Chấp hành viên áp dụng để thi hành quyết định áp dụng BPKCTT:

Các biện pháp để thi hành quyết định áp dụng BPKCTT

Mục đích

Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định

Để đảm bảo thi hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;

Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định

Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định

Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc

Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

Bảo đảm thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;

Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp

Đảm bảo thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp.

Phong tỏa tài khoản

Bảo đảm thi hành quyết định về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài sản của người có nghĩa vụ;

Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.

Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

Bảo đảm thi hành quyết định về cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác.

Định giá tài sản kê biên

Định giá lại tài sản kê biên

Giao tài sản để thi hành án

Bán tài sản đã kê biên

 

b. Quy định pháp luật về các biện pháp cưỡng chế

* Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

Biện pháp này được quy định tại các điều Điều 71, 76 và từ Điều 79 đến Điều 83 luật THADS 2008 (Sửa đổi, bổ sung 2014). Đối tượng của biện pháp này là tiền và giấy tờ có giá. Tiền bị cưỡng chế có thể là tiền trong tài khoản ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tiền mà chính họ đang giữ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh hằng ngày và tiền do người thứ ba đang giữ.

* Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

Biện pháp trừ vào thu nhập được quy định tại Điều 78 luật THADS, tương tự biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản đối tượng của biện pháp này cũng là tiền. Nhưng thu nhập theo quy định của BPCC biện pháp trừ vào thu nhập khác với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của biện pháp khấu khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá. Theo quy định của pháp luật, tiền bị cưỡng chế là thu nhập của người phải THA gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác

* Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ

Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người THA được quy định tại các Điều 74, Điều 75, Điều 84, từ Điều 89 đến Điều 98 và Điều 111 luật THADS. Theo đó, đối tượng của biện pháp này là tài sản bao gồm: tài sản là vật, vốn gốp, nhà ở, tài sản gắn liền với đất, phương tiện giao thông, hoa lợi, quyền sở hữu trí tuệ và quyền sử dụng đất. Khi tiến hành kê biên tài sản của người phải THA, Chấp hành viên phải phân biệt tài sản thuộc sở hữu chung hoặc đang có tranh chấp hay không.

* Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

Biện pháp buộc người phải THA thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định được quy định từ các Điều 118 đến Điều 121 luật THA dân sự 2008. Theo đó, đối tượng của biện pháp này là công việc nhất định phải thực hiện theo bản án, quyết định, chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện, giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định, buộc nhận người lao động trở lại làm việc. Biện pháp kết thúc khi công việc được thực hiện.

* Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

Biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ được quy định tại các Điều 114, Điều 115, Điều 116 luật THA dân sự 2008. Theo đó, đối tượng của biện pháp này là việc chuyển giao, trả vật, tài sản, giấy tờ. Xét về bản chất thì việc buộc chuyển giao vật, tài sản, giấy tờ cũng là nghĩa vụ thực hiện một công việc theo bản án của Tòa án. Tuy nhiên, biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ có điểm khác so với biện pháp buộc người phải THA thực hiện công việc 9 Khoản 1 Điều 107 luật THA dân sự 2008 15 nhất định ở điểm đối tượng hướng đến một bên là vật đặt định, vật cùng loại, nhà ở, giấy tờ còn một bên là hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức như giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định, nhận người lao động trở lại làm việc.

c. Nguyên tắc khi áp dụng các biện pháp trong thi hành án đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thứ nhất, chỉ các biện pháp cưỡng chế được quy định tại điều 71 và các biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 3 điều 66 Luật THADS mới được áp dụng để thi hành BPKCTT.

Thứ hai, Phải thi hành ngay các biện pháp được áp dụng, như:

* Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản nơi gửi giữ để thi hành BPKCTT thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản tiến hành phong tỏa ngay tài khoản, tài sản của người phải thi hành án mặc dù chưa có quyết định phong tỏa, mà chỉ cần Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu thi hành và bổ sung trong 24 giờ kể từ khi lập biên bản. Lưu ý là trong trường hợp này phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản .

* Tương tự như biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản nơi gửi giữ thì khi cần áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự ngay để thi hành BPKCTT thì Chấp hành viên yêu cầu giao giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ. Và trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Thứ ba, được ủy thác cho cơ quan THADS khác thi hành BPKCTT. Căn cứ khoản 2 điều 130 và điều 55 Luật THADS thì nếu người phải thi hành án sống ở địa phương khác hoặc tài sản phải thi hành ở đi phương khác thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định uỷ thác cho cơ quan THADS nơi người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 1 điều 35 NĐ 62/2015/NĐ-CP ngay sau khi có căn cứ ủy thác, để thuận tiện trong việc thi hành, tránh mất thời gian, đảm bảo tính cấp bách của BPKCTT.

3. Thi hành quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong quá trình thi hành quyết định áp dụng BPKCTT mà quyết định đó bị cơ quan có thẩm quyền thay đổi, bổ sung thì việc thi hành quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT được thực hiện theo quy định tại điều 131 Luật THADS. Theo đó, khi Tòa án ra quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có căn cứ thay đổi, bổ sung, Thủ trưởng cơ quan THADS ra ngay quyết định thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bị thay đổi ngay khi nhận được quyết định thay đổi, bổ sung của Tòa án. Quyết định thi hành án và quyết định thu hồi quyết định THA đối với quyết định áp dụng các BPKCTT phải được thủ trưởng cơ quan THADS ban hành ngay sau khi nhận được quyết định thay đổi, bổ sung của Tòa án mà không phân biệt quyết định áp dụng BPKCTT bị thay đổi đó đã thi hành hay chưa.

Trường hợp quyết định áp dụng BPKCTT bị thay đổi chưa được thi hành thì cơ quan THA tiếp tục thi hành thao quyết định thi hành án mới được ban hành thay thế cho quyết định thi hành trước đó theo thủ tục quy định tại điều 130. Trường hợp quyết định áp dụng BPKCTT bị thay đổi đã thi hành một phần hoặc thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan THA thông báo cho Toà án và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Toà án giải quyết. Khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì tùy trường hợp cụ thể mà đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, như sau:

Trường hợp người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT không đúng thì người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải bồi thường. Người bị thiệt hại do việc áp dụng BPKCTT không đúng có quyền khởi kiện người yêu cầu tòa án có thẩm quyền để đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tai khoản 1 điều 113 Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Thi hành quyết định hủy bỏ bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trường hợp Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng BPKCTT đã được cơ quan THADS ra quyết định thi hành thì ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quyết định đình chỉ thi hành BPKCTT phải được ban hành ngay sau khi nhận được quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án mà không phân biệt quyết định áp dụng BPKCTT bị hủy bỏ đó đã thi hành hay chưa. Theo quy định tại khoản 2 điều 132 luật THADS thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chấp hành viên làm thủ tục giải toả kê biên, trả lại tài sản, giải toả việc phong toả tài sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ.

Trường hợp quyết định áp dụng BPKCTT bị hủy bỏ đã thi hành một phần hoặc thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan THA thông báo cho Toà án và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Toà án giải quyết. Khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì tùy trường hợp cụ thể mà đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo khoản 2 Điều 131 và mục 2.3 nêu trên. Lúc này cơ quan THADS trả lại cho người đã yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại khoản tiền, kim quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá đảm bảo theo quyết định hủy bỏ BPKCTT của Tòa án, trừ trường hợp người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT không đúng thì người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình.

5. Chi phí thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời

Căn cứ điều 133 Luật THADS thì chi phí thi hành quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án được xác định như sau:

Trường hợp Toà án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chi phí thi hành án được thanh toán từ ngân sách nhà nước mà không phân biệt quyết định áp dụng BPKCTT đó là đúng hay không.

Trường hợp thi hành quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án theo yêu cầu của đương sự thì chi phí thi hành quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước và thực hiện theo quy định tại khoản 1,2 và 3 điều 73 Luật THADS. Trường hợp người yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì người đó phải thanh toán các chi phí thực tế do việc thi hành quyết định đó. Khoản tiền đặt trước được đối trừ, tài sản bảo đảm bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp được áp dụng trong trường hợp khẩn cấp để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án, nên khi có quyết định thi hành BPKCTT cơ quan THADS phải thi hành ngay, đồng thời áp dụng biện pháp phù hợp để thi hành BPKCTT tránh gây thiệt hại không đáng có cho đương sự.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.