Rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành có thể khiến nhà đầu tư mất quyền kiểm soát dù nắm tỷ lệ vốn lớn. Nguyên nhân thường do sự lệch pha giữa thỏa thuận liên doanh, điều lệ và thực tế vận hành doanh nghiệp. Do đó, cần rà soát kỹ điều lệ, thỏa thuận cổ đông hoặc hợp đồng BCC để xác định hành vi vượt thẩm quyền, bế tắc biểu quyết hoặc vi phạm nghĩa vụ quản lý. Trên cơ sở đó, lựa chọn cơ chế thương lượng, hòa giải hoặc Tòa án, Trọng tài phù hợp. Nội dung chi tiết sẽ được Chuyên tư vấn luật phân tích cụ thể.

Mục Lục
- Bản chất quyền quản trị và điều hành doanh nghiệp trong các mô hình liên doanh
- Rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành thường gặp
- Cách xử lý khi phát sinh tranh chấp quyền điều hành trong liên doanh
- Giải pháp phòng ngừa rủi ro quyền điều hành từ giai đoạn soạn thảo hợp đồng
- Dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp quyền điều hành và bế tắc quản trị tại Chuyên tư vấn luật
- Câu hỏi liên quan rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành
- Công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật nhưng Điều lệ không phân quyền rõ thì xử lý thế nào?
- Thành viên hoặc cổ đông thiểu số cần sở hữu bao nhiêu để yêu cầu họp bất thường?
- Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị chậm triệu tập họp thì có hậu quả gì?
- Muốn hủy nghị quyết trái luật trong tranh chấp quyền điều hành thì còn bao lâu để hành động?
- Người quản lý tự ý ký giao dịch với người có liên quan mà không đúng thẩm quyền thì hậu quả ra sao?
- Đã có thỏa thuận trọng tài thì còn được khởi kiện tại Tòa án không?
- Kết luận
Bản chất quyền quản trị và điều hành doanh nghiệp trong các mô hình liên doanh
Trong thực tiễn, “quyền điều hành” thường được hiểu như quyền lực tổng quát của nhà đầu tư. Tuy nhiên, đây không phải là thuật ngữ luật định độc lập mà là sự tổng hợp các quyền quản trị, biểu quyết, bổ nhiệm, giám sát và đại diện doanh nghiệp.
Vì vậy, để xử lý đúng rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành, cần xác định rõ mô hình liên doanh đang áp dụng. Liên doanh có thể vận hành theo mô hình công ty hoặc theo hợp đồng BCC, với trung tâm quyền lực và cơ chế kiểm soát khác nhau. Việc nhận diện đúng mô hình là cơ sở để lựa chọn giải pháp phù hợp.
Cơ chế điều hành trong mô hình liên doanh thành lập pháp nhân mới
Khi liên doanh được tổ chức dưới dạng công ty, quyền quản trị và điều hành doanh nghiệp không phát sinh tự động từ thỏa thuận giữa các bên. Quyền này chỉ có giá trị vận hành khi được đặt đúng vào cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp và phù hợp với Điều lệ. Nói cách khác, góp vốn nhiều không đồng nghĩa đương nhiên được trực tiếp điều hành nếu không nắm đúng cơ quan, chức danh hoặc tỷ lệ biểu quyết cần thiết.
Theo khoản 1 Điều 55 Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN), trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất.Giám đốc hoặc Tổng giám đốc chỉ điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày theo khoản 1 Điều 63 LDN.
Đối với công ty cổ phần, khoản 1 Điều 138 LDN Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty theo khoản 1 Điều 153 LDN. Theo khoản 2 Điều 162 LDN thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc điều hành công việc kinh doanh hằng ngày.
Các bên cần lưu ý là hợp đồng liên doanh chỉ tạo nền cam kết giữa các bên. Muốn quyền lực đó có hiệu lực nội bộ và đối kháng trong vận hành, các bên phải chuyển hóa nó vào Điều lệ, cơ chế biểu quyết, quyền bổ nhiệm và phạm vi đại diện. Nếu không, xung đột giữa “quyền theo hợp đồng” và “quyền theo cấu trúc quản trị” sẽ là mầm mống của tranh chấp kiểm soát doanh nghiệp.
Quyền quản lý thông qua Ban điều phối trong hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Các bên hợp tác kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế, nên không có Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hay người đại diện theo pháp luật để nắm quyền điều hành theo kiểu công ty. Theo khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2025 (LĐT), BCC chỉ là hợp đồng hợp tác giữa các nhà đầu tư để phân chia lợi nhuận hoặc sản phkm. Còn cơ chế quản lý được các bên thiết kế thông qua ban điều phối theo khoản 3 Điều 22 LĐT.
| Tiêu chí | Liên doanh theo mô hình công ty | Liên doanh theo hợp đồng BCC |
| Cơ quan quyền lực cao nhất | Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông tùy loại hình | Không có cơ quan quyền lực của pháp nhân chung |
| Người điều hành trực tiếp | Giám đốc/Tổng giám đốc theo cơ cấu doanh nghiệp | Ban điều phối hoặc đầu mối điều hành do các bên thỏa thuận |
| Căn cứ xác lập quyền | Luật Doanh nghiệp, Điều lệ, tỷ lệ vốn và cơ chế biểu quyết | Điều khoản BCC và quy chế vận hành do các bên thống nhất |
| Bản chất kiểm soát | Quyền lực nội bộ gắn với cơ quan quản trị và chức danh quản lý | Quyền quản lý mang tính hợp đồng, không phải quyền lực của một pháp nhân độc lập |
Từ sự khác biệt này, cách soạn điều khoản và xử lý tranh chấp cũng phải điều chỉnh tương ứng. Mô hình công ty tập trung vào Điều lệ và thẩm quyền chức danh. Mô hình BCC lại phụ thuộc vào phạm vi ủy quyền và cơ chế phối hợp. Nếu nhầm lẫn, doanh nghiệp dễ có quyền trên giấy nhưng khó thực thi thực tế.
Rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành thường gặp
Rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành thường phát sinh khi các bên chỉ quan tâm tỷ lệ góp vốn mà không kiểm soát cấu trúc quyền lực nội bộ. Hệ quả là doanh nghiệp vẫn vận hành đúng hình thức nhưng nhà đầu tư lại mất quyền kiểm soát nhân sự, ngân sách, dòng tiền và quyết định chiến lược.
Trong thực tiễn, đây là nhóm tranh chấp tiềm ẩn vì không bùng phát ngay từ đầu. Các vấn đề thường chỉ lộ rõ khi phát sinh giao dịch lớn, thay đổi nhân sự chủ chốt hoặc mâu thuẫn biểu quyết. Vì vậy, việc nhận diện sớm là yếu tố then chốt để hạn chế rủi ro.
Sự chênh lệch giữa tỷ lệ góp vốn và thực quyền kiểm soát nội bộ
Nhiều nhà đầu tư nhầm rằng nắm tỷ lệ vốn lớn là đương nhiên nắm quyền điều hành. Thực tế, tỷ lệ sở hữu vốn chỉ là một biến số. Quyền kiểm soát còn phụ thuộc vào:
- Quyền bổ nhiệm nhân sự;
- Cơ chế biểu quyết;
- Quyền phủ quyết;
- Cấu trúc quyền biểu quyết được ghi nhận trong điều lệ;
- Hoặc thỏa thuận giữa các bên.
Vì vậy, một bên góp vốn đáng kể vẫn có thể bị gạt khỏi quyền quản trị và điều hành doanh nghiệp nếu không giữ được các điểm chặn quyền lực này.
Theo Điều 116 LDN, pháp luật thừa nhận cổ phần ưu đãi biểu quyết với số phiếu nhiều hơn cổ phần phổ thông. Điều đó cho thấy quyền lực quản trị không luôn vận hành theo logic “ai góp nhiều hơn thì quyết nhiều hơn”. Nếu hợp đồng liên doanh không kiểm tra kỹ cấu trúc biểu quyết và quyền nhân sự chủ chốt, rủi ro mất quyền kiểm soát nội bộ là hoàn toàn hiện hữu.
Xung đột thẩm quyền giữa các chức danh quản lý chủ chốt và người đại diện pháp luật
Một rủi ro phổ biến là hợp đồng trao quyền cho một bên, nhưng quyền thực thi lại nằm ở người đại diện pháp luật hoặc người điều hành. Khi đó, bên còn lại chỉ có “quyền trên giấy” và không kiểm soát được con dấu, tài khoản hay giao dịch lớn. Đây là xung đột nguy hiểm vì ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực với bên thứ ba.
Theo khoản 2 Điều 12 LDN, nếu có nhiều người đại diện pháp luật thì Điều lệ phải phân định rõ quyền và nghĩa vụ. Nếu không quy định rõ, mỗi người đều được coi là có đủ thẩm quyền. Khi đó, việc tự ý ký kết vẫn có thể ràng buộc công ty và gây thiệt hại thực tế.
Bế tắc trong việc ra quyết định của Hội đồng thành viên và Đại hội đồng cổ đông
Bế tắc quản trị xảy ra khi doanh nghiệp không đủ tỷ lệ tham dự họp hoặc không đạt mức biểu quyết để thông qua nghị quyết. Khi đó, công ty không thể bổ nhiệm nhân sự, phê duyệt ngân sách hay quyết định giao dịch lớn. Trong liên doanh, tình huống này thường xuất hiện khi các bên cân bằng quyền lực nhưng không thiết kế cơ chế xử lý deadlock.
Theo khoản 1, 2 Điều 58 và khoản 3 Điều 59 LDN, cuộc họp Hội đồng thành viên lần đầu cần từ 65% vốn điều lệ, lần hai từ 50%. Nghị quyết thông thường cần 65% vốn góp tán thành; vấn đề quan trọng cần 75%. Nếu không có cơ chế phá bế tắc, doanh nghiệp có thể rơi vào trạng thái tê liệt.
Đối với công ty cổ phần, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông lần đầu cần trên 50% tổng số phiếu, lần hai từ 33% theo Điều 145 LDN. Nghị quyết thông thường cần trên 50%, còn nội dung quan trọng cần từ 65% theo Điều 148 LDN. Nếu hợp đồng không quy định quyền phủ quyết, quyền triệu tập họp và quy trình xử lý deadlock, tranh chấp rất dễ phát sinh.
>> Xem thêm: Toàn tập quy trình tổ chức họp họp Đại hội đồng cổ đông đúng chuẩn Luật Doanh nghiệp
Cách xử lý khi phát sinh tranh chấp quyền điều hành trong liên doanh
Khi tranh chấp quyền quản trị và điều hành đã phát sinh, cần tránh xử lý cảm tính. Nếu phản ứng chậm, bên đang nắm thực quyền có thể tiếp tục ký giao dịch, hợp thức hóa nghị quyết, thay đổi người đại diện hoặc hạn chế quyền tiếp cận thông tin của bên còn lại.
Vì vậy, cần áp dụng lộ trình rõ ràng: kiểm tra hồ sơ, triệu tập họp nội bộ, tiến hành thương lượng hoặc hòa giải, sau đó mới lựa chọn cơ quan tài phán phù hợp để giải quyết.
Rà soát hồ sơ pháp lý và thu thập chứng cứ vi phạm nghĩa vụ quản lý
Bước đầu là khóa hồ sơ pháp lý và xác định đúng điểm tranh chấp. Cần đối chiếu hợp đồng liên doanh hoặc SHA, Điều lệ, quy chế tài chính, quyết định bổ nhiệm, mẫu dấu, hồ sơ ngân hàng, biên bản họp, nghị quyết, email chỉ đạo và các hợp đồng lớn. Qua đó, xác định bên kia vi phạm nghĩa vụ quản lý, vượt thẩm quyền hay chỉ khai thác khoảng trống quản trị.
Theo khoản 2 Điều 115 LDN cổ đông hoặc nhóm cổ đông đủ điều kiện có quyền yêu cầu triệu tập họp bất thường. Việc triệu tập này thực hiện khi thuộc 1 trong các trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao. Yêu cầu phải kèm tài liệu, chứng cứ và người yêu cầu chịu trách nhiệm về tính chính xác. Nếu không chuẩn bị chứng cứ từ đầu, doanh nghiệp dễ rơi vào thế bị động.
Trong thực tế, tranh chấp thường đi kèm mất kiểm soát dòng tiền và thông tin. Vì vậy, cần nhanh chóng sao lưu chứng từ, niêm phong dữ liệu, ghi nhận lịch sử phê duyệt và thiết lập chuỗi chứng cứ. Trường hợp có thỏa thuận trọng tài nhưng không tự thu thập được tài liệu, có thể đề nghị Tòa án hỗ trợ theo Khoản 5 Điều 46 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Kích hoạt cơ chế thương lượng và hòa giải thương mại để phá vỡ bế tắc
Sau khi kiểm tra xong hồ sơ, bước tiếp theo là kích hoạt cơ chế nội bộ để ngăn công ty rơi vào tê liệt kéo dài. Nếu tranh chấp xuất phát từ bế tắc biểu quyết hoặc lạm quyền, các bên nên yêu cầu triệu tập họp bất thường. Đây không chỉ là thủ tục quản trị mà còn là bước tạo nền chứng cứ rất mạnh cho giai đoạn tố tụng sau đó.
Theo khoản 1 Điều 57 LDN, Chủ tịch Hội đồng thành viên phải triệu tập họp trong 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ của thành viên hoặc nhóm thành viên có quyền. Đối với công ty cổ phần, Hội đồng quản trị phải triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường trong 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông đủ điều kiện theo khoản 2 Điều 140 LDN. Nếu người có trách nhiệm cố tình không triệu tập, đây là dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ quản trị và có thể làm phát sinh trách nhiệm cá nhân về thiệt hại.
Song song với họp nội bộ, các bên nên mở kênh thương lượng hoặc hòa giải thương mại càng sớm càng tốt. Theo Điều 14 Luật Đầu tư 2025, tranh chấp liên quan hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được ưu tiên giải quyết bằng thương lượng, hòa giải. Trong nhiều tranh chấp liên doanh, đây là giai đoạn duy nhất còn giữ được bí mật nội bộ, tránh đứt gãy hợp tác và hạn chế việc đối phương tiếp tục làm trầm trọng hóa xung đột điều hành.

Khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với người quản lý doanh nghiệp lạm quyền
Khi thương lượng không hiệu quả, cần chuyển sang khởi kiện với định hướng rõ ràng. Trọng tâm là xác định đúng bị đơn và hành vi vi phạm, như vượt thẩm quyền, không triệu tập họp, ban hành nghị quyết trái luật hoặc lạm dụng chức vụ gây thiệt hại. Việc định danh đúng giúp hồ sơ tập trung và tăng hiệu quả xử lý.
Theo Điều 72 và khoản 1 Điều 166 LDN, thành viên hoặc cổ đông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện người quản lý khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, trái Điều lệ hoặc tư lợi. Đây là căn cứ pháp lý trực tiếp để yêu cầu bồi thường thiệt hại và chấm dứt hành vi vi phạm. Lưu ý, cổ đông hoặc thành viên có quyền yêu cầu hủy nghị quyết trái luật trong thời hạn 90 ngày theo Điều 49 và Điều 151 LDN. Quá thời hạn này, quyền khởi kiện sẽ bị hạn chế đáng kể.
Về cơ quan giải quyết, nếu có thỏa thuận trọng tài hợp lệ, tranh chấp thuộc thẩm quyền trọng tài. Nếu không, tranh chấp sẽ do Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Việc chọn sai cơ quan có thể làm kéo dài tranh chấp và gây bất lợi về thời gian.
Tóm lại, khởi kiện không chỉ là bước cuối mà là công cụ pháp lý để tái lập quyền kiểm soát doanh nghiệp. Việc chuẩn bị đúng hồ sơ, xác định đúng hành vi và lựa chọn đúng cơ quan giải quyết sẽ quyết định hiệu quả xử lý tranh chấp. Đặc biệt, cần kiểm soát chặt thời hạn và trình tự để không làm mất lợi thế pháp lý.
Giải pháp phòng ngừa rủi ro quyền điều hành từ giai đoạn soạn thảo hợp đồng
Phòng ngừa hiệu quả không nằm ở câu chữ chung chung. Cốt lõi là khóa trước quyền quản trị, kiểm soát giao dịch và cơ chế xử lý bế tắc. Các nội dung này phải được thiết kế ngay trong bộ tài liệu nền. Nếu hợp đồng liên doanh, Điều lệ và quy chế nội bộ không đồng bộ, rủi ro sẽ phát sinh. Tranh chấp thường bùng phát khi xuất hiện quyết định “sinh tử” của doanh nghiệp.
Thiết lập điều khoản quyền phủ quyết bảo vệ nhà đầu tư
Điều khoản quyền phủ quyết cần tập trung vào các quyết định then chốt. Bao gồm sửa Điều lệ, tăng giảm vốn, thay đổi người đại diện pháp luật, giao dịch lớn, vay nợ lớn, chuyển nhượng tài sản trọng yếu hoặc giải thể. Nếu không kiểm soát nhóm quyết định này, nhà đầu tư thiểu số dễ bị giảm quyền lực dù vẫn còn vốn góp.
Theo điểm e, g, h khoản 2 Điều 24 LDN, Điều lệ phải quy định rõ cơ cấu quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện pháp luật, thể thức thông qua quyết định và cơ chế giải quyết tranh chấp nội bộ. Vì vậy, quyền phủ quyết cần được ghi nhận đồng thời trong hợp đồng và Điều lệ. Nếu chỉ dừng ở thỏa thuận, hiệu lực thực tế sẽ rất hạn chế.
Cơ chế phân bổ quyền bổ nhiệm nhân sự và kiểm soát dòng tiền chặt chẽ
Rủi ro mất tiền thường không bắt đầu từ tranh chấp vốn, mà từ việc một bên tự nắm Giám đốc, Kế toán trưởng, tài khoản và quyền ký giao dịch. Muốn chặn rủi ro này, cần ghi rõ ai được bổ nhiệm, ai được đồng phê duyệt, giao dịch nào phải xin chấp thuận trước, và trường hợp nào phải báo cáo bắt buộc.
Theo khoản 1 Điều 67 và khoản 1 Điều 167 LDN, hợp đồng hoặc giao dịch giữa công ty với người quản lý, người đại diện hoặc người có liên quan phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước. Vì vậy, hợp đồng liên doanh cần khóa bằng quy chế tài chính, ngưỡng phê duyệt giao dịch lớn và cơ chế kiểm tra chéo dòng tiền. Nếu không, quyền điều hành trên giấy sẽ nhanh chóng biến thành quyền chi phối tài sản trên thực tế.
Dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp quyền điều hành và bế tắc quản trị tại Chuyên tư vấn luật
Chuyên tư vấn luật cung cấp giải pháp toàn diện để xử lý tranh chấp quyền điều hành và tình trạng bế tắc quản trị trong doanh nghiệp, đặc biệt với mô hình liên doanh và công ty có nhiều nhóm lợi ích.
- Rà soát hồ sơ pháp lý: hợp đồng liên doanh, Điều lệ, quy chế nội bộ, nghị quyết, biên bản họp
- Đánh giá rủi ro và xác định hành vi vi phạm thẩm quyền, nghĩa vụ quản lý
- Tư vấn thiết lập chiến lược xử lý: triệu tập họp, thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện
- Soạn thảo hồ sơ yêu cầu hủy nghị quyết, yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Đại diện làm việc với cơ quan tài phán: Trọng tài hoặc Tòa án có thẩm quyền
- Hỗ trợ thiết kế lại cơ cấu quản trị để phòng ngừa tái diễn tranh chấp
Với kinh nghiệm xử lý các tranh chấp phức tạp, Luật sư doanh nghiệp giúp doanh nghiệp kiểm soát rủi ro, bảo vệ quyền quản trị và khôi phục hoạt động ổn định.
>> Xem thêm: Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp miễn phí qua điện thoại

Câu hỏi liên quan rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành
Rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành thường bùng phát ở các điểm mà nhà đầu tư ít ngờ nhất: quyền triệu tập họp, quyền tiếp cận hồ sơ, quyền ký giao dịch và thời hạn phản ứng khi nghị quyết đã ban hành. Các câu hỏi dưới đây tập trung vào những tình huống dễ làm mất quyền kiểm soát doanh nghiệp nếu xử lý chậm hoặc chọn sai cơ chế pháp lý.
Công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật nhưng Điều lệ không phân quyền rõ thì xử lý thế nào?
Phải rà soát và sửa ngay Điều lệ để phân định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Nếu Điều lệ không quy định rõ, mỗi người đại diện theo pháp luật đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba. Rủi ro là một người có thể tự ký giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ cho công ty. Nội dung này được xác định tại khoản 2 Điều 12 LDN.
Thành viên hoặc cổ đông thiểu số cần sở hữu bao nhiêu để yêu cầu họp bất thường?
Phải kiểm tra đúng loại hình doanh nghiệp trước khi yêu cầu họp. Với công ty TNHH hai thành viên trở lên, thành viên hoặc nhóm thành viên phải sở hữu ít nhất 10% vốn điều lệ để yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên. Với công ty cổ phần, cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải sở hữu ít nhất 05% cổ phần phổ thông để yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường.
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 49, Điều 115 LDN.
Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị chậm triệu tập họp thì có hậu quả gì?
Có, người có trách nhiệm triệu tập họp chậm hoặc không triệu tập có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý. Chủ tịch Hội đồng thành viên phải triệu tập họp trong 15 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu hợp lệ. Hội đồng quản trị phải triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường trong 30 ngày theo Khoản 2 Điều 140 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Riêng Chủ tịch Hội đồng thành viên còn phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại theo Khoản 8 Điều 57 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 57 và Điều 57 LDN.
Muốn hủy nghị quyết trái luật trong tranh chấp quyền điều hành thì còn bao lâu để hành động?
Phải hành động rất nhanh vì thời hạn yêu cầu hủy nghị quyết là ngắn. Với nghị quyết hoặc quyết định của Hội đồng thành viên, thời hạn là 90 ngày kể từ ngày kết thúc họp. Với nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, thời hạn là 90 ngày kể từ ngày nhận nghị quyết, biên bản họp hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến.
Cơ sở pháp lý: điểm d khoản 2 Điều 49 và Điều 151 LDN.
Người quản lý tự ý ký giao dịch với người có liên quan mà không đúng thẩm quyền thì hậu quả ra sao?
Giao dịch có thể bị vô hiệu và người liên quan phải bồi thường. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người quản lý, người đại diện hoặc người có liên quan phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Nếu ký không đúng thẩm quyền, người ký, thành viên có liên quan và người có liên quan tham gia giao dịch phải bồi thường thiệt hại và hoàn trả lợi ích thu được.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 67, Điều 167 LDN.
Đã có thỏa thuận trọng tài thì còn được khởi kiện tại Tòa án không?
Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ, Tòa án phải từ chối thụ lý tranh chấp theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010. Ngoại lệ chỉ phát sinh khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Ngoài ra, tranh chấp đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được ưu tiên thương lượng, hòa giải trước. Nếu không thành thì giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án.
>> Xem thêm: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng doanh nghiệp
Kết luận
Rủi ro hợp đồng liên doanh về quyền điều hành chỉ được kiểm soát khi nhìn đúng bản chất là tranh chấp quyền quản trị, không chỉ là tỷ lệ vốn. Cần rà soát đồng bộ Điều lệ, thỏa thuận cổ đông, hợp đồng BCC và cơ chế biểu quyết để giữ quyền kiểm soát nhân sự, dòng tiền và chiến lược. Nếu chậm xử lý, bên nắm thực quyền có thể hợp thức hóa giao dịch hoặc nghị quyết bất lợi. Để được đánh giá hồ sơ và chọn hướng thương lượng, Trọng tài hoặc Tòa án phù hợp, liên hệ Chuyên tư vấn luật qua Hotline 1900.63.63.87.

















