QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CẤP SƠ THẨM

05 /092017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CẤP SƠ THẨM

1. Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

a. Khởi kiện vụ án dân sự

Các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Tuy nhiên, không phải chủ thể nào cũng có thể khởi kiện vụ án dân sự và bất kỳ vụ án dân sự nào cũng được đưa ra giải quyết mà ràng buộc các điều kiện sau:

- Chủ thể nộp đơn khởi kiện có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Mặt khác, chủ thể yêu cầu phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ khi nộp đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015).

- Hình thức và phương thức nộp đơn khởi kiện phải phù hợp với quy định của pháp luật về cách thức của một đơn khởi kiện : ghi rõ ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện lên tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện; tên, địa chỉ của người bị kiện; những vấn đề cụ thể yêu cầu tòa án giải quyết. Việc khởi kiện phải được thực hiện dưới hình thức văn bản. Khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải xuất trình giấy tờ tùy thân như CMND, sổ hộ khẩu,..., giấy tờ chứng minh đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (nếu đương sự là người đại diện của cơ quan, tổ chức,... Về phương thức nộp đơn khởi kiện cũng là thời điểm để xác định ngày khởi kiện, đương sự có thể nộp trực tiếp tại Tòa án (ngày nộp đơn chính là ngày khởi kiện), gửi đến tòa án thông qua dịch vụ bưu chính (ngày khởi kiện là ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi; nếu không xác định được thì ngày khởi kiện là ngày người nộp đơn gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính), hoặc khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của tòa án (ngày khởi kiện là ngày gửi đơn) (Điều 190 BLTTDS 2015).

- Đảm bảo về thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp có liên quan đến bất động sản hoặc yêu cầu về bồi thường thiệt hại, những tranh chấp phát sinh khác.

- Sự việc yêu cầu giải quyết chưa được tòa án giải quyết. Đương sự có quyền khởi kiện lại theo khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015.

- Vụ án không bị hạn chế khởi kiện.

- Vụ án phải thuộc thẩm quyền của tòa án. Việc xác định đúng thẩm quyền của tòa án giải quyết sẽ đảm bảo việc thụ lý cũng như thủ tục tố tụng diễn ra thuận lợi, gồm xác định theo vụ việc, xác định theo lãnh thổ và theo cấp. Ngoài ra, có thể do hai bên lựa chọn nơi giải quyết nếu xảy ra tranh chấp về hợp đồng.

Nếu các đương sự không thỏa mãn những điều kiện trong quá trình nộp đơn khởi kiện như người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, hoặc sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định trước đó đã có hiệu lực pháp luật cửa cơ quan nhà nước có thẩm quyền,... thì tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự kèm văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, người khởi kiện, Viện kiểm sát vẫn có quyền khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện của tòa án theo quy định tại Điều 194 BLTTDS 2015.

Trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến tòa án nhưng tòa án không có thẩm quyền để giải quyết vụ việc dân sự đó thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện phải chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho tòa án có thẩm quyền giải quyết, đồng thời phải gửi quyết định này đến Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết (Điều 41 BLTTDS 2015). Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị quyết định này trong vòng 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

b. Thụ lý vụ án dân sự

Khi nhận đơn khởi kiện, tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn và cung cấp giáy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Tùy vào phương thức khởi kiện của người nộp đơn mà ngày nộp đơn được xác định khác nhau. Về nguyên tắc, người khởi kiện gửi tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Chánh án tòa án phải phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện. Thời hạn giao nộp tài liệu chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Việc xử lý đơn được thực hiện theo sự phân công là 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công. Trong thời hạn này, thẩm phán phải đưa ra một trong các quyết định sau:

- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

- Chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện, viện kiểm sát cùng cấp biết. Việc chuyển đơn có thể được thực hiện trước hoặc sau thời điểm thụ lý vụ án. Nếu chưa thụ lý, còn trong giai đoạn xem xét thụ lý mà phát hiện không thuộc thẩm quyền thì tòa án chuyển đơn khởi kiện và thông báo cho các đương sự biết; nếu đã thụ lý mới phát hiện không thuộc thẩm quyền thì tòa án ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho tòa án có thẩm quyền và gửi cho viện kiểm sát cùng cấp, đương sự và người liên quan biết;

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền của tòa án.

- Thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để gải quyết theo thủ tục rút gọn. Ngoài những điều kiện nêu trên thì tòa án chỉ vào sổ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo. Trong trường hợp họ được miễn nộp hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì tòa án chỉ thụ lý khi nhận được đơn khởi kiện hoặc nhận được tài liệu, chứng cứ kèm theo. Theo điều 195 BLTTDS 2015 thì nếu thấy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để đến tòa làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án sẽ dự tính số tiền tạm ứng án phí và báo cho người có nghĩa vụ trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo phải đến tòa án nộp tạm ứng án phí.

2. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

a. Thời hạn chuẩn bị xét xử

Tại Điều 203 BLTTDS 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án thông thường (trừ những vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài) như sau:

- Đối với vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình: thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; có thể được gia hạn thêm nhưng không quá 02 tháng.

- Đối với vụ án kinh doanh, thương mại, lao động: thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; có thể được gia hạn thêm nhưng không quá 01 tháng.

b. Các hoạt động chuẩn bị xét xử

Thứ nhất, phân công thẩm phán giải quyết vụ án

Theo Điều 197 BLTTDS 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án trên nguyên tắc khách quan, vô tư, ngẫu nhiên. Theo đó, thẩm phán phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công của chánh án như sau:

- Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 BLTTDS 2015;

- Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác.

- Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

- Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

- Xác minh, thu thập chứng cứ;

- Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Tổ chức phiên họp kiểm gia việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định.

Chánh án bên cạnh lập một danh sách thẩm phán tham gia xét xử vụ án thì vẫn phải lập một danh sách dự khuyết phân công thẩm phán khác tham gia xét xử nếu thẩm phán được phân công ban đầu không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ; nếu không có thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

Thứ hai, thông báo về việc thụ lý vụ án

Sau khi thụ lý vụ án, thẩm phán phải ra thông báo bằng văn bản cho đương sự, viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án. Khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của tòa án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Trong trường hợp người được thông báo có đơn xin gia hạn và việc gia hạn là có căn cứ thì tòa án phỉa gia hạn nhưng không được vượt quá 15 ngày. Việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.

Thứ ba, lập hồ sơ vụ án

Căn cứ vào yêu cầu của người khởi kiện, tòa án xác định các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án để yêu cầu đương sự hoặc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu tòa án thu thập hoặc trong các trường hợp luật có quy định khác. Khi nhận được chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc do thu thấp được thì tòa án phỉa đưa chúng vào hồ sơ vụ án. Theo Điều 204 BLTTDS 2015 thì hồ sơ vụ án bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự. Các giấy tờ, tài liệu này phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự và được quản lý, lưu giữ, sử dụng đúng theo pháp luật.

Thứ tư, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải

Đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: theo quy định tại Điều 208 BLTTDS 2015, sau khi thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp thì thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Trong phiên họp, ngoài thẩm phán là người chủ trì phiên họp và đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự thì còn có Thư ký Tòa án là người ghi biên bản phiên họp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có), người phiên dịch và một số cá nhân, tổ chức khác. Về trình tự thủ tục phiên họp, Điều 210 BLTTDS 2015:

- Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ.

- Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Hỏi đương sự về yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Thư ký đọc biên bản họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ. Nếu hai bên không có ý kiến gì khác thì hai bên ký vào tất cả các trang của biên bản, riêng trang cuối cùng ký và ghi rõ họ tên.

Đối với phiên hòa giải: việc bắt buộc hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm sẽ giúp các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự, trừ những vụ án không được hòa giải (Điều 206 BLTTDS 2015), không tiến hành hòa giải được theo quy định và những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trước đó,

Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người địa diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành và nội dung phiên họp. Thành phần của phiên hòa giải cũng đồng thời là thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Về thủ tục tiến hành hòa giải trước phiên tòa sơ thẩm chỉ áp dụng đối với những vụ án được giải quyết theo thủ tục thông thường (những vụ án theo thủ tục rút gọn thì không tiến hành hòa giải trước phiên tòa mà chỉ tiến hành hòa giải tại phiên tòa). Ngoài ra, Tòa án không tiến hành hòa giải đối với những vụ án không được hòa giải (như những vụ án liên quan đến yêu cầu bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước,...) hoặc những vụ án không tiến hành hòa giải được (như vụ án mà tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bị đơn vẫn cố tình vắng mặt hoặc đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng,...). Thủ tục hòa giải được thực hiện theo khoản 4 Điều 210 BLTTDS 2015 như sau:

- Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

- Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có)

- Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có)

- Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;

- Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

- Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; những nội dung mà các đương sự thống nhất hoặc không thống nhất và phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp; sau đó có quyền được xem biên bản sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu những sửa đổi, bổ sung và ký xác nhận hoặc điểm chỉ. Trường hợp đương sự thỏa thuận được về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào có ý kiến thay đổi sự thỏa thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hòa giải đó sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự (Điều 212 BLTTDS 2017). Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đướngự phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp trong thòi hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên vẫn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

3. Phiên tòa sơ thẩm

Khi hòa giải không đạt kết quả và không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì tòa án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thời hạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Quyết định này được gửi cho các đương sự, viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mà không phân biệt vụ án đó có sự tham gia của viện kiểm sát hay không. Trong trường hợp viện kiểm sát tham gia phiên tòa thì sau 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án từ tòa án thì viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ đó.

Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phiên xử công khai và sau cùng của giai đoạn tố tụng sơ thẩm thể hiện bằng bản án đối với một vụ tranh chấp dân sự. Điều 222 quy định yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ thẩm: địa điểm (Điều 223), hình thức bố trí phòng xử án (Điều 224) cũng như phương thức xét xử (Điều 225). Theo đó, tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án trong trường hợp có liểm sát viên tham gia phiên tòa.

Thành phần hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm: Điều 63 BLTTDS 2015 quy định thành phần Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn. Ngoài ra, nếu đương sự là người chưa thành niên, người lao động, bên yếu thế thì để bảo vệ quyền lợi cho họ, theo quy định hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại đoàn thanh niên CSHCM, hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; người có kiến thức pháp luật về lao động. Bên cạnh đó, Điều 226 BLTTDS 2015 còn quy định cụ thể việc thay thế thành viên Hội đồng xét xử trong trường hợp thẩm phán, hội thẩm nhân dân không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án thì phải có thẩm phán, hội thẩm nhân dân sự khuyết.

Thành phần tham gia phiên tòa sơ thẩm bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợ pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và kiểm sát viên trong một số trường hợp. Có một số điểm lưu ý về sự có mặt của những thành phần trên:

- Thứ nhất, sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Về nguyên tắc, khi được tòa án triệu tập hợp lệ thì đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải có mặt tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, để tạo điều kiện tham gia phiên tòa thì Điều 227 BLTTDS 2015 nêu rõ khi đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ vắng mặt trong lần triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì hội đồng xét xử hoãn phiên tòa dù có hay không có lý do chính đáng, trừ trường hợp đề nghị xét xử vắng mặt. Trong lần triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nếu sự vắng mặt là có lý do chính đáng hoặc do trở ngại khách quan, không thể tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa thì tòa án hoãn phiên tòa, trừ trường hợp có đơn xét xử vắng mặt. Những trường hợp vắng mặt khác thì nguyên đơn sẽ bị coi là từ bỏ việc khởi kiện, bị đơn sẽ bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố của nguyên đơn và những hậu quả pháp lý khác làm chấm dứt quyền phản tố và yêu cầu đối với tòa án.

- Thứ hai, sự có mặt của người làm chứng. Theo quy định tại Diều 229 BLTTDS 2015 thì người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án để làm sáng tỏ một số tình tiết của vụ án, đảm bảo tính khách quan, đúng đắn của kết quả giải quyết vụ án. Trong trường hợp người làm chứng vắng mặt thì hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục tiến hành xét xử (nếu trước đó đã có lời khai trực tiếp với tòa hoặc đã gửi lời khai cho tòa án) hay hoãn phiên tòa (nếu việc vắng mặt của người làm chứng gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án).

- Thứ ba, sự có mặt của người giám định, người phiên dịch. Theo các Điều 230 và 231 BLTTDS 2015 thì người giám định, người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án. Tùy trường hợp mà Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa hay vẫn tiến hành xét xử nếu người giám định vắng mặt. Đối với người phiên dịch, khi vắng mặt mà không có người thay thế thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa để đảm bảo tiếng nói, chữ viết trong tố tụng.

- Thứ tư, sự có mặt của Kiểm sát viên. Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp. Căn cứ theo khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015 thì Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp trên, Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công tham gia phiên tòa. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử mà không hoãn phiên tòa hoặc có Viện kiểm sát dự khuyết tham gia phiên tòa thì họ phải tham gia phiên tòa ngay từ đầu. Trường hợp không có Kiểm sát viên dự khuyết thì Hội đồng xứt xử phải hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 62 BLTTDS 2015.

Trường hợp hoãn phiên tòa sơ thẩm, tại Điều 233 BLTTDS 2015 thì thời hạn hõa phiên toàn là không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Trong thời hạn nàu, tòa án phải có kế hoạch mở lại phiên toàn theo đúng thời gian, địa điểm ghi trong quyết định hoãn để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp không thể mở lại phiên tòa theo đúng như trên thì tòa án phải thông báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

Trường hợp tạm ngừng phiên tòa, khi thấy cần thiết phải thêm thời gian để khắc phục những khó khăn gây ảnh hưởng đến việc tiếp diễn của phiên toà, hoặc để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn thì khi đó, việc tạm ngừng phiên tòa là cần thiết. Những trường hợp để ra quyết định tạm ngừng phiên tòa căn cứ vào Điều 259 BLTTDS 2015. Đồng thời, thời hạn tạm ngừng phiên toàn là không quá 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng xứt xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa.

Trình tự, thủ tục trong phiên tòa sơ thẩm được quy định tại các Mục 2 (bắt đầu phiên tòa), Mục 3 (tranh tụng tại phiên tòa), Mục 4 (Nghị án và tuyên án) diễn ra đúng theo quy định của BLTTDS 2015.

Sau khi hỏi các đương sự về việc bổ sung hay rút một phần, toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì thủ tục tranh tụng tại phiên tòa được xem là phần quan trọng nhất trong nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự. Bởi đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự sẽ nêu ra những luận điểm, căn cứ pháp lý để bảo vệ những quan điểm của mình, chứng minh những lập luận, quan điểm đó là có căn cứ trước hội đồng xét xử, là cơ sở để Hội đồng xét xử thu thập ý kiến, xem xét và ra quyết định đúng đắn nhất.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.