QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CẤP PHÚC THẨM

06 /092017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CẤP PHÚC THẨM

Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015), bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sẽ không có hiệu lực thi hành ngay. Theo đó, khi bản án sơ thẩm được tuyên, đương sự và Viện kiểm sát có một khoảng thời gian để thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị của mình theo thủ tục phúc thẩm khi không đồng ý với phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm. Việc xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Việc phúc thẩm trên nhằm đảm bảo các quyết định, bản án của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật được xem xét lại một cách thận trọng, đảm bảo sửa chữa kịp thời những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án.

Dưới đây là bảng so sánh giữa một bản án dân sự sơ thẩm bị kháng cáo và kháng nghị:

 

Kháng cáo

Kháng nghị

Khái niệm

Là việc đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án dân sự khi không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong thời hạn luật định.

Là việc Viện kiểm sát (VKS) yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án dân sự khi không đồng ý với bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn luật định.

Chủ thể thực hiện

Đương sự trong vụ án dân sự đó hoặc người đại diện của đương sự trong trường hợp đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích của mình hoặc của người khác (Điều 271 BLTTDS 2015).

Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm có quyền kháng nghị (Điều 278 BLTTDS 2015).

Đối tượng

Thỏa mãn hai điều kiện sau:

  • Đương sự, VKS chỉ có quyền kháng cáo, kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
  • Chỉ có quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của tòa án cấp sơ thẩm mới thuộc đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
    (Điều 271 và Điều 278 BLTTDS 2015)

Thời hạn

Đối với bản án sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VADS thì thời hạn kháng cáo là 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày được niêm yết.

(Điều 273 BLTTDS 2015). Ngày kháng cáo được tính từ lúc đương sự nộp đơn kháng cáo trực tiếp lên tòa án hoặc ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi đương sự gửi đơn có đóng dấu ở phong bì.

Đối với bản án sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị là 15 ngày (đối với VKS cùng cấp) và 01 tháng (đối với VKS cấp trên), kể từ ngày tuyên án.

Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VADS thì thời hạn kháng nghị là 07 ngày (đối với VKS cùng cấp) và 10 ngày (đối với VKS cấp trên), kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định.

Kháng cáo, kháng nghị quá hạn

Đương sự phải trình bày lý do kháng cáo quá hạn bằng văn bản và chứng minh bằng việc xuất trình tài liệu, chứng cứ cho tòa án cấp sơ thẩm. Trong thời hạn 10 ngày, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ thành lập hội đồng gồm 03 Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn và ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định và nêu rõ lý do.

(Điều 275 BLTTDS 2015)

VKS giải thích bằng văn bản nêu rõ lý do kháng nghị cho tòa án sơ thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc kháng nghị quá hạn như đối với trường hợp xem xét đơn kháng cáo quá hạn.

(Điều 280 BLTTDS 2015).

Hình thức

Việc kháng cáo phải được lập thành văn bản (đơn kháng cáo) và nộp cho tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản bán, quyết định bị kháng cáo. Các nội dung trong đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 272 BLTTDS 2015 và kèm theo tài liệu, chứng cứ bổ sung chứng minh cho việc kháng cáo củaa mình là có căn cứ.

Quyết định kháng nghị của VKS phải được lập thành văn bản, gửi ngay cho Tò án cấp sơ thẩm đã ra bản bán, quyết định bị kháng nghị và có các nội dung chính theo quy định tại khoản 1 Điều 279 BLTTDS 2015 kèm theo tài liệu, chứng cứ bổ sung chứng minh cho việc kháng nghị của mình là hợp pháp.

Rút kháng cáo, kháng nghị

Người kháng cáo, VKS đã kháng nghị, VKS cấp trên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị của mình trước phiên tòa phúc thẩm (Thẩm phán ra quyết định xét xử phúc thẩm) hoặc tại phiên tòa phúc thẩm (Hội đồng xét xử ra quyết định xét xử phúc thẩm). Việc rút kháng cáo, kháng nghị đã thực hiện thì đương sự, VKS vẫn có thể kháng cáo, kháng nghị lại nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị vẫn còn (30 ngày) hoặc được thực hiện theo thủ tục kháng cáo, kháng nghị quá hạn.

Thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị

Việc thay đồi, bổ sung kháng cáo phải được lập thành văn bản hoăc phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Người kháng cáo, VKS kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm (Thẩm phán xem xét) hoặc tại phiên tòa phúc thẩm (Hội đồng xét xử xem xét). Tùy thuộc vào thời hạn kháng cáo, kháng nghị vẫn còn hay đã hết mà người kháng cáo, VKS kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo kháng nghị trong phạm vi ban đầu.

Hậu quả

Đối với bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ hoặc một phần thì phần bản án, quyết định đó chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay (như trường hợp những bản án, quyết định liên quan đến cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc,.. hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân).

Đối với bản án, quyết định chưa bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ hoặc một phần thì phần bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, tức thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp (30 ngày).

(Điều 282 BLTTDS 2015).

 

1. Công việc của tòa án cấp sơ thẩm đối với bản án bị kháng cáo, kháng nghị

Khi nhận được đơn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền phải thực hiện những công việc trước khi gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho tòa án cấp phúc thẩm. Cụ thể như sau:

a. Kiểm tra đơn kháng cáo (Điều 275 BLTTDS 2015): khi nhận hồ sơ phúc thẩm, thẩm phán cần kiểm ra hồ sơ về hình thức (quyết định kháng nghị, đơn kháng cáo có hợp lệ không, còn thời hạn được kháng cáo, kháng nghị không) lẫn nội dung (nội dung kháng cáo, quyết định kháng nghị và nội dung của vụ án). Trong quá trình xem xét đơn, Tòa án cấp sơ thẩm có thể yêu cầu người kháng cáo làm lại, bổ sung hoặc sửa đổi đơn kháng cáo (chưa đầy đủ các nội dung theo quy định); hoặc trả lại đơn kháng cáo (nếu người kháng cáo không chịu sửa chữa, bổ sung hoặc trường hợp người kháng cáo không thuộc đối tượng có quyền được kháng cáo); hoặc áp dụng những quy định về kháng cáo quá hạn để giải quyết những trường hợp quá thời hạn kháng cáo.

b. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (Điều 276 BLTTDS 2015): khi đơn kháng cáo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thì tòa án cấp sơ thẩm thông báo người kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp. VKS kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm không phải nộp tạm ứng án phí. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo có nghĩa vụ nộp tiền và biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án sơ thẩm. Quá thời hạn trên, Tòa án trả lại đơn kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng bằng văn bản.

c. Thông báo việc kháng cáo, kháng nghị (Điều 277 BLTTDS 2015): sau khi chấp nhận đơn kháng cáo, tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp và các đương sự có liên quan biết về việc kháng cáo; và không phải thông báo cho chính người đã kháng cáo. Người nhận được thông báo của tòa án có quyền gửi ý kiến của mình cho Tòa án cấp phúc thẩm và văn bản này sẽ được đưa vào hồ sơ vụ án. Riêng đối với việc kháng nghị thì VKS phải gửi ngay cho đương sự có liên quan quyết định kháng nghị của mình, đương sự khi nhận được có quyền nêu văn bản ý kiến của mình và văn bản này sẽ được đưa vào hồ sơ vụ án.

d. Gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho tòa án cấp phúc thẩm (Điều 283 BLTTDS 2015): trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị hoặc hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu chứng cứ bổ sung kèm theo.

2. Công việc của tòa án cấp phúc thẩm

Kể từ khi nhận được hồ sơ có kháng cáo, kháng nghị do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên, thì Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc:

a. Thụ lý vụ án dân sự (Điều 185 BLTTDS 2015)

Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo thì Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý vụ án và trong 03 ngày làm việc thì phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, VKS cùng cấp biết về việc đã thụ lý vụ án. Chánh án tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử và phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa. Theo điều 64 BLTTDS 2015 thì Hội đồng xét xử gồm có 03 Thẩm phán, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; và không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân.

b. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án (Điều 286 BLTTDS 2015) và có thể được gia hạn thêm nhưng không quá 01 tháng (nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan). Thời hạn nêu trên không áp dụng đối với vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc có yếu tố nước ngoài. Trong thời hạn này, Tòa cấp phúc thẩm ra một trong ba quyết định sau:

- Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án (Điều 288 BLTTDS 2015): nếu trong quá trình giải quyết vụ án thấy có những căn cứ cần phải tạm đình chỉ thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm. Hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện tương tự như tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cấp sơ thẩm. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và được gửi cho đương sự, cơ quan tổ chức, cá nhân khởi kiện, VKS cùng cấp.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án (Điều 289 BLTTDS 2015): quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ dẫn đến việc ngừng xét xử phúc thẩm mà không ảnh hưởng đến những hoạt động tố tụng trước đó, bản án, quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

- Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm: nếu không thuộc vào các trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và quyết định này phải được gửi cho đương sự, VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định; đồng thời chuyển hồ sơ vụ án cho VKS nghiên cứu trong 15 ngày, hết thời hạn đó, VKS phải trả lại hồ sơ vụ án. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 01 tháng, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm và được gia hạn thêm 01 tháng nếu có lý do chính đáng về việc không mở được phiên tòa.

c. Xét xử phúc thẩm

Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm: bao gồm người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Ngoài ra những người tham gia tố tụng khác chỉ được Tòa án triệu tập khi xét thấy cần thiết. Đặc biệt, trong tất cả các phiên tòa phúc thẩm bắt buộc phải có mặt của Kiểm sát viên đại diện VKS để thực hiện quyền kiểm sát của mình. Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì

Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp VKS có kháng nghị phúc thẩm.

Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự: từ Điều 297 đến Điều 315 BLTTDS 2015 thì về cơ bản, thủ tục của một phiên tòa phúc thẩm tương tự như thủ tục của một phiên tòa sơ thẩm:

Theo các điều từ Điều 308 đến Điều 312 BLTTDS 2015 thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Sửa bản án sơ thẩm.

- Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

- Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm.

- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Cuối cùng, Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định phúc thẩm cuối cùng và được gửi cho đương sự, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cơ quan có thẩm quyền để tổ chức thi hành trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Ngoài ra còn phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của Trung ương hoặc địa phương trong 03 số liên tiếp nếu bản án, quyết định có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.