QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI VÀ TRƯNG DỤNG ĐẤT

04 /022018

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI VÀ TRƯNG DỤNG ĐẤT

Thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của nhà nước khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của nhà nước. Thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai của nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trưng dụng đất là việc nhà nước tạm thời lấy đất của người sử dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

1. Quy định về thu hồi đất

a. Cơ sở thực hiện thu hồi đất

Thu hồi đất theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013 có các đặc điểm sau: Chủ thể có thẩm quyền thu hồi đất là cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có hai hình thức nhà nước thu hồi đất:

+ Thu lại quyền sử dụng đất của người được nhà nước trao quyền;

+ Thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

* Hệ quả pháp lý của việc nhà nước thu hồi đất:

Chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất. Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều hướng đến hai mục đích: Thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của nhà nước khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật có khả năng gây tổn hại đến tài sản của nhà nước; Thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

b. Các trường hợp thu hồi đất

Luật Đất đai 2013 phân chia các trường hợp thu hồi đất thành 4 nhóm dựa vào bản chất từng trường hợp: Vì mục đích quốc phòng, an ninh; Để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng đồng; Chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; do vi phạm pháp luật đất đai.

* Thu hồi do vì mục đích quốc phòng - an ninh quy định tại Điều 61 Luật Đất đai 2013, được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;

- Xây dựng căn cứ quân sự;

- Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;

- Xây dựng ga, cảng quân sự;

- Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;

- Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;

- Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;

- Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;

- Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân;

- Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.

* Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công đồng quy định tại Điều 62 Luật Đất đai 2013 được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất.

- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất.

- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất.

Luật Đất đai 2013 không cho phép thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế nếu như nó không gắn liền với lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

- Những trường hợp mà nhà nước không thực hiện thu hồi thì người có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện các dự án phải thông qua các hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh quy định tại Điều 73 Luật Đất đai 2013, Điều 16 Nghị định 43/2014.

* Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Điều 64 Luật Đất đai 2013 nhưng trên thực tế có 2 trường hợp xảy ra phổ biến là:

- Sử dụng đất không đúng mục đích đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt xi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm.

- Đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đất tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiền độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

Việc thu hồi đất do hành vi vi phạm pháp luật về đất đai ngoài căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, có những trường hợp nhà nước chỉ thu hồi đất sau khi đã xử lý vi phạm hành chính đối với người sử dụng đất mà họ vẫn vi phạm pháp luật.

* Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người quy định tại Điều 65 Luật Đất đai 2013:

Để tránh trường hợp thu hồi đất tùy tiện, việc thu hồi đất phải dựa vào các căn cứ cụ thể sau:

- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không có nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất.

- Giấy chứng từ hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp cá nhân sử dụng đất chết ,à không có người thừa kế.

- Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.

- Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp đất được nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn.

- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạc lở, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tại khác đe dọa tính mạng con người đối với những trường hợp này.

c. Thẩm quyền thu hồi đất

Thẩm quyền thu hồi đất chủ yếu quy định cho ủy ban nhân dân các cấp, thẩm quyền này được xác định cụ thể tùy thuộc vào loại chủ thể sử dụng đất quy định tại Điều 66 Luật đất đai 2013 như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi đất đối với tổ chức; cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

- Ủy ban nhân dân cấp huyện thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Ban quản lý khu công nghệ cao, khu kinh tế thu hồi đất trong khu công nghệ cao, khu kinh tế quy định tại điểm c khoản 2 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 53 Nghị định 43/2014.

Cảng vụ hàng không thu hồi đất trong hàng không dân dụng quy định tại điểm c khoản 4 Điều 55 Nghị định 43/2014 NĐ-CP.

Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật Đất đai 2013 Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

* Quản lý quỹ đất thu hồi

Việc quản lý quỹ đất đã được thu hồi nhằm mục đích bảo vệ quyền sở hữu đất đai của nhà nước và nhằm mục đích chuẩn bị cho hoạt động điều phối đất đai. Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Đất đai 2013, cụ thể:

- Tổ chức dịch vụ công về đất đai có trách nhiệm quản lý đối với đất đã thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; Đất đã thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai, chấm dứt sử dụng đất theo pháp luật, do tự nguyện, do đe dọa tính mạng người khác

- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý đối với đất đã thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai, chấm dứt sử dụng đất theo pháp luật, do tự nguyện, do đe dọa tính mạng người khác là đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn.

2. Quy định pháp luật về trưng dụng đất có thời hạn

a. Cơ sở thực hiện trưng dụng đất có thời hạn

Trưng dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 16, khoản 1 Điều 72 Luật Đất đai 2013 có các đặc điểm sau: Chủ thể có thẩm quyền thu hồi đất là cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tính chất của việc trưng dụng đất có thời hạn là nhà nước tạm thời lấy đất của người sử dụng đất trong trường hợp thật cần thiết. Thuộc 2 trường hợp sau đây:

+ Để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;

+ Để thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

* Hệ quả pháp lý của việc nhà nước trưng dụng đất:

Khi hết thời hạn trưng dụng đất hoặc đã thực hiện xong mục đích trưng dụng đất, nhà nước trả lại đất và bồi thường thiệt hạn cho người bị trưng dụng đất do việc trưng dụng đất gây ra thiệt hại. Việc trưng dụng đất sẽ không làm chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất.

b. Các trường hợp trưng dụng đất

Trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà nước thực hiện việc trưng dụng đất.

* Quyết định trưng dụng đất

Quyết định trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản; trường hợp khẩn cấp không thể ra quyết định bằng văn bản thì người có thẩm quyển được quyết định trưng dụng đất bằng lời nói nhưng phải viết giấy xác nhận việc quyết định trưng dụng đất ngay tại thời điểm trưng dụng. Quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ban hành.

* Thời hạn trưng dụng đất

Thời hạn trưng dụng đất: Không quá 30 ngày kể từ khi quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành. Trường hợp trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì thời hạn trưng dụng đất được tính từ ngày ra quyết định đến không quá 30 ngày kể từ ngày ra bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Trong trường hợp hết hạn trưng dụng mà mục đích của của việc trưng dụng chưa hoàn thành thì được gia hạn nhưng không quá 30 ngày. Quyết định gia hạn trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và gửi cho người có đất trưng dụng trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng.

c. Thẩm quyền trưng dụng đất

Thẩm quyền quyết định trưng dụng đất, quyết định gia hạn trưng dụng đất quy định tại khoản 3 Điều Điều 72 Luật Đất đai 2013 bao gồm:

- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;

- Bộ trưởng Bộ Công an;

- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

- Bộ trưởng Bộ Y tế;

- Bộ trưởng Bộ Công Thương;

- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Chủ tích Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Người có thẩm quyền trưng dụng đất không được phân cấp thẩm quyền cho người khác.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.