QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH BẢN ÁN/QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN

11 /082017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH BẢN ÁN/QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN

1. Căn cứ để thi hành bản án/quyết định của tòa án

Bản án, quyết định đã có hiệu lực phải được đảm bảo thi hành gồm:

- Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, tức 30 ngày, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 482 thì phải thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo kháng nghị như bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công; quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Bản án phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm sau khi được tuyên án hoặc ra quyết định sẽ có hiệu lực pháp luật ngay.

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Khi có bản án, quyết định mà Tòa án, cơ quan có thẩm quyền tuyên không mặc nhiên được đưa ra thi hành ngay. Trong số những nội dung của bản án, quyết định thuộc diện trên, Luật Thi hành án dân sự phân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành và những loại việc cơ quan thi hành án dân sự chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự. Tuy nhiên không phải bất cứ đương sự nào cũng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án để thi hành bản án, quyết định đó. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự thì:

- Trường hợp đương sự là pháp nhân hoặc là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của đương sự.

- Trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người giám hộ.

- Trường hợp đương sự có ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người được ủy quyền.

Như vậy, trong một bản án, quyết định, nếu có những nội dung mà cơ quan thi hành án căn cứ tự mình đưa ra thi hành quy định tại Điều 36 Luật thi hành án dân sự 2014, còn những nội dung còn lại mà liên quan đến đương sự (như bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tiền cấp dưỡng, buộc người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại làm việc, buộc thực hiện hành vi nhất định…) thì đương sự phải làm đơn mới được đưa ra thi hành.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự 2014 thì những loại việc do cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành là các loại việc sau đây:

- Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án;

- Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước;

- Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;

- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.

2. Cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án/quyết định có hiệu lực của tòa án

Thẩm quyền thi hành án theo Điều 35 Luật thi hành án 2008 sửa đổi 2014 bao gồm:

- Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện (Chi cục Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh);

- Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh (Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương);

- Cơ quan thi hành án dân sự cấp quân khu.

3. Thời hiệu yêu cầu thi hành bản án/quyết định có hiệu lực của tòa án

Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó người được thi hành án, người phải tíến hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án. Hết thời hạn đó, nếu nguời yêu cầu thi hành án không chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn, thì người được thi hành án không còn quyền yêu cầu thi hành phần bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án nữa, còn người phải thi hành án không còn nghĩa vụ phải thi hành phần bản án, quyết định đó cho người được thi hành án nữa. Bản án, quyết định hết hiệu lực thi hành (đối với phần thi hành theo đơn yêu cầu).

Theo đó, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 năm được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án 2008 sửa đổi 2014. Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu thi hành án chỉ áp dụng đối với trường hợp có đơn yêu cầu. Đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi 2014 thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thời hạn thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.

4. Thủ tục thi hành bản án/quyết định có hiệu lực của tòa án

a. Trình tự, thủ tục thi hành án

Thứ nhất, Đối với đơn yêu cầu của đương sự:

- Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Đương sự nộp đơn yêu cầu thi hành án hoặc trực tiếp trình bày yêu cầu thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền theo giải thích của Toà án về quyền yêu cầu thi hành án khi đương sự nhận bản án, quyết định của Toà án; hoặc gửi đơn yêu cầu qua bưu điện.

- Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền nhận đơn hoặc lập biên bản về các nội dung yêu cầu thi hành án; ra quyết định thi hành án và gửi quyết định thi hành án cho các đương sự; tiến hành các thủ tục thi hành án theo quy định của pháp luật: thông báo tự nguyện cho đương sự; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức cưỡng chế thi hành án và xử lý tài sản; thanh toán tiền thi hành án hoặc giao tài sản; thu phí thi hành án. Mặt khác, cơ quan thi hành án dân sự không được từ chối nhận đơn yêu cầu của đương sự.

- Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án.

- Người được thi hành án nhận tiền hoặc tài sản thi hành án và nộp phí thi hành án.

- Nếu xét thấy đủ điều kiện để thi hành án hoặc không nằm trong các trường hợp hoãn, đình chỉ thi hành án thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.

Thứ hai, đối với quyết định của cơ quan thi hành án:

- Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Tòa án cấp phúc thẩm đã ra bản án, quyết định này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.

- Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định.

- Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

- Nếu xét thấy đủ điều kiện để thi hành án hoặc không nằm trong các trường hợp hoãn, đình chỉ thi hành án thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.

b. Hoãn quyết định thi hành án

Căn cứ vào Điều 48 Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi 2014 có các trường hợp sẽ được hoãn thi hành:

- Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;

- Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;

- Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;

- Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;

- Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;

- Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;

- Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

- Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật thi hành án dân sự.

c. Khiếu nại về thi hành án dân sự

“Khiếu nại về thi hành án dân sự là việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án đề nghị xem xét lại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chính họ”.

Tuy nhiên, không phải khiếu nại nào cũng đều được cơ quan có thẩm quyền thụ lý, người giải quyết khiếu nại sẽ không thụ lý nếu trường hợp khiếu nại là một trong các nội dung sau đây:

- Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;

- Khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết;

- Người khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Người đại diện không hợp pháp;

- Thời hiệu khiếu nại, thời hiệu khiếu nại tiếp đã hết;

- Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;

- Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định của tòa án.

Đối với những trường hợp khác không nằm trong các trường hợp nêu trên, người giải quyết khiếu nại phải có trách nhiệm thụ lý đơn khiếu nại.

Thời hiệu khiếu nại: Theo quy định tại khoản 2 Điều 140 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi 2014:

- Quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

- Quyết định về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

- Quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

- Quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.

d. Cưỡng chế thi hành án dân sự

Theo khoản 3, Điều 3 Luật thi hành án dân sự 2008, người phải thi hành án dân sự là “cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành”, nhà nước khuyến khích người có nghĩa vụ nên chủ động, tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật. Theo đó, chấp hành viên được giao nhiệm vụ sử dụng quyền năng mà pháp luật trao cho để buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người được thi hành án mà nghĩa vụ đó đã được ấn định trong Bản án, quyết định đã có hiệu pháp luật.

Căn cứ để đưa ra cưỡng chế thi hành án dân sự nếu có đủ các căn cứ được quy định tại Điều 70 Luật thi hành án dân sự 2014 bao gồm: bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án.

Để áp dụng biện pháp cưỡng chế, điều kiện để Chấp hành viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình căn cứ theo hai điều kiện sau đây:

Thứ nhất, tài sản bị cưỡng chế phải có giá trị ước tính tương xứng với nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án (Khoản 1 Điều 8 Nghị đinh 58/2009 /NĐ-CP).

Thứ hai, chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã được pháp luật quy định. Theo đó có 6 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được quy định tại điều 71 Luật thi hành án dân sự như sau:

- Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

- Khai thác tài sản của người phải thi hành án.

- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

Chấp hành viên có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế cùng một lúc trong số các biện pháp cưỡng chế đã được quy định ở trên.

Thứ ba, không tổ chức cưỡng chế trong một số thời điểm nhất định như vào các dịp lễ, tết Nguyên đán, hoặc những ngày đặc biệt như ngày thương binh 27/07 nếu người phải thi hành án là thương binh; ngày 22/12 nếu người phải thi hành án là quân nhân,... Đây được xem như là chính sách khoan hồng của nhà nước ta đối với những đối tượng phải thi hành án.

Quyết định cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.