QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁP NHÂN

03 /082017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁP NHÂN

1. Khái niệm pháp nhân

Pháp nhân là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, bên cạnh chủ thể là cá nhân. Pháp luật dân sự không nêu ra định nghĩa pháp nhân là gì mà chỉ quy định một tổ chức là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) như sau:

Thứ nhất, được thành lập theo quy định của BLDS và các luật khác có liên quan;

Một pháp nhân được thành lập hợp pháp khi được pháp luật cho phép hoặc thừa nhận và phải được thành lập theo đúng trình tự, thủ tục mà luật định.

Theo quy định tại Điều 82 BLDS 2015, việc thành lập pháp nhân có thể theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với pháp nhân quy định phải đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật thì phải thực hiện việc đăng ký thành lập pháp nhân và việc đăng ký này phải được công bố công khai để các chủ thể của quan hệ dân sự khác biết.

Thứ hai, có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 BLDS 2015. Cụ thể, pháp nhân phải có cơ quan điều hành; tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành phải được quy định trong điều lệ pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân. Ngoài ra, pháp nhân có thể có các cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt một tổ chức có tư các pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân;

Để có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ dân sự, pháp nhân cần phải có một khối lượng tài sản nhất định. Và tài sản của pháp nhân còn phải có sự độc lập, không chịu sự chi phối ràng buộc của bất kỳ ai, đảm bảo tư cách chủ thể của pháp nhân. Mặt khác, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm bằng khối tài sản đó. Các thành viên của pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình đã góp (trừ trường hợp công ty hợp danh) vào pháp nhân.

Căn cứ Điều 81 BLDS 2015, tài sản của pháp nhân bao gồm: vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu.

Thứ tư, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Điều kiện này xuất phát từ việc tách bách tài sản với các cá nhân, tổ chức khác. Với việc sở hữu một khối tài sản riêng, pháp nhân có đủ khả năng để hưởng, tự mình thực hiện các quyền và chịu nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ dân sự.

Chủ thể thành lập nên pháp nhân theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 BLDS 2015 bao gồm mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Một số vấn đề liên quan đến pháp nhân

a. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

Sau khi một pháp nhân đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập thì theo Khoản 2 Điều 86 BLDS 2015, pháp nhân pháp sinh năng lực pháp luật dân sự kể từ thời điểm này. Đối với pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì thời điểm pháp sinh là kể từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Do đó, thời điểm pháp nhân phát sinh năng lực pháp luật dân sự cũng là thời điểm pháp nhân có khả năng có các quyền và nghĩa vụ dân sự. Điều đó cũng có nghĩa rằng, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân sẽ chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt hoạt động. Pháp luật không quy định năng lực hành vi dân sự của pháp nhân giống như cá nhân. Bởi lẽ, năng lực hành vi dân sự là khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự; nhưng pháp nhân là một tổ chức nên không thể thực hiện các hành vi xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự mà việc thực hiện này thông qua hành vi của người đại diện cho pháp nhân. Theo Điều 85 BLDS 2015, đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

b. Tên gọi, trụ sở, quốc tịch của pháp nhân

Thứ nhất, về tên gọi;

Giống như cá nhân, pháp nhân cũng phải có tên gọi. Theo Điều 78 BLDS 2015, pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt và tên gọi của pháp nhân phải thể hiện rõ loại hình tổ chức và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Trong các giao dịch dân sự, pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình để tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự.

Thứ hai, về trụ sở;

Căn cứ Điều 79 BLDS 2015, trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân. Pháp nhân có quyền thay đổi trụ sở nhưng phải công bố công khai. Địa chỉ liên lạc của pháp nhân cũng chính là địa chỉ trụ sở của pháp nhân. Tuy nhiên, pháp nhân không bắt buộc dùng địa chỉ trụ trở làm địa chỉ liên lạc mà có thể chọn một nơi khác làm địa chỉ liên lạc.

Thứ ba, về quốc tịch.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 80 BLDS 2015, quốc tich của pháp nhân được xác định theo nơi mà pháp nhân đăng ký thành lập. Tức là, những pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam.

c. Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân

Căn cứ Khoản 1 Điều 84 BLDS 2015, chi nhánh và văn phòng đại diện của pháp nhân là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không mang tư cách pháp nhân. Điểm khác biệt cơ bản giữa chi nhánh và văn phòng đại diện là phạm vi hoạt động của chúng. Theo Khoản 2, 3 Điều 84 BLDS 2015, chi nhánh có được quyền thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân; tuy nhiên, văn phòng đại diện chỉ được thực hiện nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao.

Việc thành lập, chấm dứt của chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân cũng phải được đăng ký theo quy định của pháp luật và phải công bố công khai. Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn ủy quyền.

Vì chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, thực hiện chức năng của pháp nhân hoặc đại diện thực hiện các công việc mà pháp nhân giao nên giao dịch dân sự mà chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân theo quy định tại Khoản 6 Điều 84 BLDS 2015.

d. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

Kể từ khi có tư cách chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, pháp nhân cũng phát sinh trách nhiệm dân sự của mình. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân quy định tại Điều 87 BLDS 2015. Cụ thể:

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Như phân tích ở trên, pháp nhân không có năng lực hành vi dân sự. Do đó, pháp nhân muốn tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự phải thông qua hành vi của người đại diện. Tuy nhiên, người đại diện phải nhân danh pháp nhân thực hiện giao dịch dân sự thì mới phát sinh quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm dân sự của pháp nhân. Việc không nhân danh pháp nhân của người đại diện để thực hiện giao dịch chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người đại diện vì khi đó, người đại diện đang tham gia giao dịch với tư cách là của họ, tư cách của một cá nhân - chủ thể bên cạnh pháp nhân trong quan hệ pháp luật dân sự. Vấn đề này đã được pháp luật dân sự quy định tại Khoản 2 Điều 87 BLDS 2015 như sau: "Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác". Ngược lại, người đại diện của pháp nhân cũng sẽ không chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện. Cụ thể, Khoản 3 Điều 87 BLDS 2015 quy định: "Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác".

Ngoài ra, pháp nhân còn phải chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 87 BLDS 2015.

3. Phân loại pháp nhân

Căn cứ Điều 75, Điều 76 BLDS 2015, pháp nhân chia làm hai loại: pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Cơ sở phân loại trên là căn cứ vào pháp nhân đó có mục đích tìm kiếm lợi nhuận hay không.

(i) Pháp nhân thương mại

Theo Điều 75 BLDS 2015, pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Từ quy định trên, có thể thấy rằng, pháp nhân thương mại sẽ bao gồm các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác có mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân không được xem là pháp nhân, bởi lẽ nó không có sự tách bạch tài sản giữa chủ sở hữu và doanh nghiệp; do đó, không đáp ứng đủ điều kiện để trở thành pháp nhân.

(ii) Pháp nhân phi thương mại

Khác với pháp nhân thương mại, theo Điều 76 BLDS 2015, pháp nhân phi thương mại không có mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận; thậm chí nếu có lợi nhuận thì lợi nhuận này cũng không được chia cho các thành viên. Từ quy định này, có thể thấy rằng, pháp nhân phi thương mại bao gồm các tổ chức sau: cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

4. Điều lệ của pháp nhân

Pháp luật dân sự không nêu khái niệm điều lệ là gì mà chỉ liệt kê các nội dung chủ yếu của một bản điều lệ. Tuy nhiên, có thể hiểu rằng, điều lệ của pháp nhân là những điều khoản do các thành viên của pháp nhân soạn ra và dựa theo những quy định định để hoạt động.

Pháp luật không bắt buộc mọi pháp nhân đều phải có điều lệ mà pháp nhân chỉ phải có điều lệ khi pháp luật có quy định. Nội dung chủ yếu của điều lệ của pháp nhân quy định tại Điều 77 BLDS 2015 như sau:

a) Tên gọi của pháp nhân;

b) Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân;

c) Trụ sở chính; chi nhánh, văn phòng đại diện, nếu có;

d) Vốn điều lệ, nếu có;

đ) Đại diện theo pháp luật của pháp nhân;

e) Cơ cấu tổ chức; thể thức cử, bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh của cơ quan điều hành và các cơ quan khác;

g) Điều kiện trở thành thành viên hoặc không còn là thành viên của pháp nhân, nếu là pháp nhân có thành viên;

h) Quyền, nghĩa vụ của các thành viên, nếu là pháp nhân có thành viên;

i) Thể thức thông qua quyết định của pháp nhân; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;

k) Thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ;

l) Ðiều kiện hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức, giải thể pháp nhân.

5. Tổ chức lại pháp nhân

Các hình thức tổ chức lại pháp nhân bao gồm: chuyển đổi hình thức của pháp nhân, hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia pháp nhân, tách pháp nhân. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 96 BLDS 2015, việc tổ chức lại pháp nhân (trừ tách pháp nhân) làm chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân. Khi đó, pháp nhân chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan.

Thứ nhất, về chuyển đổi hình thức pháp nhân;

Căn cứ Điều 92 BLDS 2015, sau khi pháp nhân chuyển đổi hình thức thì pháp nhân được chuyển đổi chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân chuyển đổi được thành lập; pháp nhân chuyển đổi kế thừa quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được chuyển đổi.

Thứ hai, hợp nhất và sáp nhập pháp nhân;

Hợp nhất và sáp nhập đều là sự kết hợp của hai hay nhiều pháp nhân lại với nhau. Sự khác biệt cơ bản của hợp nhất và sáp nhập chính là sự tồn tại của của pháp nhân sau khi hợp nhất và sáp nhập. Đối với hợp nhất, theo Điều 88 BLDS 2015, các pháp nhân cũ sẽ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân mới được hợp nhất thành lập; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới. Đối với sáp nhập, theo Điều 89 BLDS 2015, chỉ có pháp nhân được sáp nhập (là pháp nhân được sáp nhập vào một pháp nhân khác) mới chấm dứt sự tồn tại; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được pháp nhập sẽ chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập.

Thứ ba, chia và tách pháp nhân.

Chia và tách pháp nhân đều là sự hình thành hai hay nhiều pháp nhân khác từ một pháp nhân. Điểm khác biệt cơ bản giữa chia và tách pháp nhân là sự tồn tại của "pháp nhân mẹ" - pháp nhân bị chia hoặc bị tách. Đối với chia pháp nhân, theo Điều 90 BLDS 2015, sau khi chia, "pháp nhân mẹ" chấm dứt sự tồn tại; quyền và nghĩa vụ sẽ chuyển giao cho các pháp nhân mới. Đối với tách pháp nhân, theo Điều 91 BLDS 2015, "pháp nhân mẹ" tồn tại cùng với pháp nhân mới mà không bị chấm dứt hoạt động; cả hai pháp nhân sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ phù hợp với mục đích hoạt động của mình.

6. Giải thể pháp nhân

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 96 BLDS 2015, việc giải thể pháp nhân làm chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân. Khi đó, pháp nhân chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan.

Pháp nhân giải thể trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 93 BLDS 2015 như sau:

a) Theo quy định của điều lệ;

b) Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Hết thời hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Khi giải thể, pháp nhân sẽ phát sinh các nghĩa vụ về tài sản. Và việc thanh toán tài sản của pháp nhân bị giải thể theo quy định tại Điều 94 BLDS 2015 thực hiện theo thứ tự như sau:

a) Chi phí giải thể pháp nhân;

b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

c) Nợ thuế và các khoản nợ khác.

Sau khi đã thanh toán hết chi phí giải thể pháp nhân và các khoản nợ, phần còn lại thuộc về chủ sở hữu pháp nhân, các thành viên góp vốn trừ tường hợp của quỹ xã hội, quỹ từ thiện được trình bày sau đây hoặc pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã thanh toán hết chi phí giải thể và các khoản nợ, tài sản còn lại được chuyển giao cho quỹ khác có cùng mục đích hoạt động; trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc quỹ bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì tài sản của quỹ bị giải thể thuộc về Nhà nước.

7. Phá sản pháp nhân

Theo Điểm b Khoản 1 Điều 96 BLDS 2015, việc phá sản pháp nhân làm chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân. Khi đó, pháp nhân chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan.

Căn cứ Điều 95 BLDS 2015, việc phá sản của pháp nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.