QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN

31 /032018

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN

Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Kết hôn và đi đến hôn nhân một cách hợp pháp cần được pháp luật thừa nhận bằng việc đăng ký kết hôn, lúc này quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người trong quan hệ hôn nhân đó, trong trường hợp xảy ra tranh chấp về tài sản sẽ được pháp luật bảo vệ theo quy định. Khi muốn chấm dứt quan hệ hôn nhận được pháp luật công nhận và bảo vệ nêu trên thì vợ, chồng cũng cần sự công nhận của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của mình nhất là đối với người vợ và con.

Trình tự, thủ tục ly hôn

Khi tình trạng quan hệ hôn nhân của vợ chồng trầm trọng, không thể sống chung với nhau, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được thì về nguyên tắc, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Trừ trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà quyền yêu cầu thuộc về người vợ, quy định này nhằm để bảo vệ người mẹ và trẻ em trong chế định ly hôn.

Việc ly hôn có thể là thuận tình cả hai bên hoặc do một bên muốn ly hôn. Nên có thể chia ra hai loại ly hôn là thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn. Thuận tình ly hôn là việc vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con. Còn đơn phương ly hôn là việc yêu cầu giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

1. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì khi vợ hoặc chồng muốn ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng người kia không đồng ý thì có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, sau khi hòa giải không thành thì Tòa án sẽ quyết định giải quyết theo thủ tục chung của một vụ án dân sự, nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa giải quyết cho ly hôn.

Căn cứ Điều 51 luật hôn nhân gia đình 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, mà không thể chuyển giao hay ủy quyền cho bất kỳ ai. Ly hôn như sau:

Thứ nhất, Nộp đơn yêu cầu ly hôn và thụ lý yêu cầu

Người có quyền nộp đơn: Vợ/chồng hoặc cả hai hoặc cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ .

Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại Tòa án quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng; Hồ sơ gồm: Đơn xin ly hôn đơn phương, chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của vợ và chồng; giấy đăng ký kết hôn (bản chính); giấy khai sinh của các con; giấy tờ về tài sản nếu có yêu cầu Tòa án phân chia.

Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người nộp đơn nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Vợ/chồng là nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án trong thời hạn 07 ngày.

Thứ hai, Chuẩn bị xét xử

Căn cứ khoản 1 Điều 203 BLTTDS thì vụ án ly hôn có thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Trong thời gian này việc quan trọng và tiên quyết là tiến hành hòa giải để các bên có thể trao đổi, giải quyết mâu thuẫn để từ đó hàn gắn, gắn kết vợ chồng và đoàn tụ, đồng thời giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. Để hai bên hiểu rõ về hậu quả sau khi ly hôn và cũng để vợ, chồng hiểu được lỗi của mình từ đó có thể rút đơn. Việc hòa giải giúp các bên tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí tiền bạc; giúp Thẩm phán nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của các đương sự, nguyên nhân mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn. Mục đích của việc hòa giải là giúp các bên đoàn tụ, không phải để các đương sự ly hôn. Việc hòa giải là bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn, Tòa án có trách nhiệm chủ động tiến hành hòa giải dù việc hòa giải có kết quả khả quan hay không. Nếu Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải sẽ bị coi như vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, là căn cứ để bản án bị kháng cáo, kháng nghị ở cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành và khi hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành, thì Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử, phiên tòa sẽ được tổ chức trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thứ ba, phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án ly hôn và quyết định ly hôn

Trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa được thực hiện như thủ tục chung của vụ án dân sự, chỉ lưu ý các vấn đề sau:

Trong phần bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không . Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án. Lúc này các đương sự có thể thỏa thuận đoàn tụ hoặc không đoàn tj mà vẫn ly hôn nhưng đã thõa thuận được tất cả các vấn đề về hôn nhân, tài sản, con chung một cách hợp pháp thì Tòa công nhận sự thỏa thuận đó, mà không cần xét xử nữa; nếu các đương sự không thỏa thuận được thì phiên tòa tiếp tục được tiến hành theo trình tự luật định.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa chỉ ra quyết định ly hôn khi có yêu cầu ly hôn của một bên khi có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Theo đó:

Tình trạng quan hệ hôn nhân của vợ chồng trầm trọng là khi vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần; Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần; Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như nêu trên, nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng;

  1. ra, vấn đề nuôi con sau ly hôn nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa sẽ căn cứ căn cứ vào việc vợ hay chồng đáp ứng được điều kiện để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

2. Thuận tình ly hôn

Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly hôn thuận tình là trường hợp giải quyết ly hôn theo yêu cầu của cả hai vợ chồng; trong đó vợ, chồng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết cả ba vấn đề: Quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản và quan hệ nuôi con, trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn. Thủ tục thuận tình ly hôn như sau:

Thứ nhất, nộp đơn và thụ lý việc ly hôn

Vợ/chồng nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc Đơn xin ly hôn có ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu của cả hai bên.

Sau khi nhận được Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc Đơn xin ly hôn, Tòa án phải xem xét những tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí, đương sự nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý việc dân sự kể từ khi nhận được biên lai này.

Thứ hai, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn

Căn cứ Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì trước khi ra quyết định có mở phiên họp giải quyết việc dân sự, Tòa án phải xem xét các tài liệu, chứng cứ mà đương sự cung cấp, nếu thiếu thì có thể yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản nếu đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết

Và mặc dù pháp luật tố tụng dân sự không quy định rõ về việc hòa giải đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn, nhưng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì khi giải quyết ly hôn đồng thuận, tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ thành thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành nhưng các đương sự không thỏa thuận được hoặc có thõa thuận nhưng không đảm bảo quyền cho vợ con về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết.

Nếu hòa giải đoàn tụ không thành,các đương sự đều đồng ý ly hôn và thỏa thuận được các vấn đề về tài sản, con chung thì Tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không thành. Và ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.

Thứ ba, Phiên họp công nhận thuận tình ly hôn

Theo quy định tại Điều 367 BLTTDS thì để đảm bảo cho sự tuân thủ đúng đắn quy định pháp luật thì Kiểm sát viên phải tham gia phiên họp nhưng không bắt buộc vì trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Thành phần không thể thiếu đó là người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bởi nếu vắng mặt mà không đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt họ thì Tòa án sẽ hoãn phiên Tòa. Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự

Căn cứ Điều 369 BLTTDS thì trước khi tiên hành phiên họp Thư ký báo cáo Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp; Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải quyết việc dân sự;

Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét tài liệu, chứng cứ; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;

Cuối cùng, thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự và ra quyêt định có nôi dung theo quy định tại Điều 370 BLTTDS quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 BLTTDS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây :

- Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn, đảm bảo quyền lợi của vợ, chồng, không bị cưỡng ép ly hôn.

- Hai bên đã thỏa thuận được với nhau việc ly hôn một cách thuận tình, tức các bên thỏa thuận được với nhau tất cả vấn để như về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

- Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.

Quyết định này được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.

Căn cứ vào kết quả hòa giải không thành Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn cua vợ, chồng. Khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân chấm dứt. Kể từ thời điểm này, người vợ, người chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác mà không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào từ phía bên kia. Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng sẽ đương nhiên chấm dứt. Nghĩa là các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn và gắn bó trong suốt thời kỳ hôn nhân như: nghĩa vụ yêu thương quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng … sẽ đương nhiên mất đi. Về nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn: pháp luật quy định, việc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn trước hết do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên tắc chung đó là, tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản chung sẽ được chia đôi nhưng có xem xét đến công sức đóng góp và hoàn cảnh của mỗi bên cũng như việc đảm bảo quyền lợi của người vợ và các con. Khi ly hôn việc xác định người trực tiếp nuôi con, và quyền thăm nom, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đề phải trên cơ sở đảm bảo quyền lợi cho con, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho trẻ. Trường hợp cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho trẻ, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng trên cơ sở yêu cầu của một hoặc cả hai bên.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.