QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

07 /032018

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, một vụ án được xét xử qua hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Sau khi xử sơ thẩm, nhằm tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự và khắc phục những sai lầm trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, nếu đương sự không đồng ý với phán quyết của tòa sơ thẩm thì có quyền chống án bằng việc kháng cáo. Căn cứ Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) quy định tính chất của xét xử phúc thẩm là việc “xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. Theo đó "kháng cáo" là hoạt động tố tụng của các chủ thể có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật nhằm chống lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án. Ngoài các đương sự liên quan đến vụ việc không đồng ý với bản án mà kháng cáo thì pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định hành vi tố tụng của người có thẩm quyền , thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, đó là hành vi tố tụng "kháng nghị", với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án.

1. Quy định pháp luật về kháng cáo

a. Những người có quyền kháng cáo

Theo quy định tại Điều 271 BLTTDS thì: Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên những chủ thể trên

b. Thời hạn kháng cáo

Do thời hạn kháng cáo có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền kháng cáo của các đương sự nên Điều 273 BLTTDS quy định cụ thể như sau:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày. Tuy nhiên, thời điểm để tính thời hạn 15 ngày đối với các trường hợp khác nhau được xác định khác nhau.

- Trường hợp thứ nhất, nếu các đương sự có mặt tại phiên tòa khi tòa tuyên án thì thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Trường hợp thứ hai, nếu các đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

- Trường hợp thứ ba, nếu các đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng không có mặt khi Tòa án tuyên án thì khi tính thời hạn kháng cáo phải xét đến lý do vắng mặt của họ; nếu họ vắng mặt có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án, quyết định hoặc bản án được niêm yết; nếu họ vắng mặt không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án. Đây là một hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng khi những chủ thể này đã cố ý vắng mặt khi tòa tuyên án mà không có lý do.

Cách tính thời hạn kháng cáo theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là chưa bảo đảm tính bình đẳng trong tố tụng dân sự. Ở đây có hai trường hợp được coi là đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Thứ nhất là trường hợp đương sự không tham gia phiên tòa ngay từ khi bắt đầu; Thứ hai là trường hợp đương sự có tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt khi tòa tuyên án. Tuy nhiên, Điều 273 chỉ đặt ra vấn đề xem xét lý do vắng mặt với trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa tuyên án, còn đối với trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa ngay từ đầu thì Tòa án không cần xét đến lý do vắng mặt. Như vậy, nếu theo quy định của Điều 273 thì người không có mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng sẽ được áp dụng quy chế pháp lý có lợi giống với người không có mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng - thời điểm tính thời hạn kháng cáo đối với họ đều được xác định từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

c. Kháng cáo quá hạn

Về nguyên tắc, kháng cáo của đương sự chỉ được chấp nhận khi còn thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng cáo, các chủ thể không có quyền kháng cáo. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thể chấp nhận kháng cáo quá hạn nếu có lý do chính đáng. Quy định này là hợp lý bởi lẽ, kháng cáo là quyền tự định đoạt của đương sự nhưng do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà đương sự không thể thực hiện được quyền kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định. Khi đương sự có đầy đủ chứng cứ để chứng minh việc kháng cáo quá hạn là có lý do chính đáng thì phải được Tòa án chấp nhận.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 275 về phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn thì nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo quá hạn nên phải có sự tham gia của người kháng cáo quá hạn, vì việc chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Và nếu đã được thông báo tham gia phiên họp xem xét kháng cáo mà vắng mặt tại phiên họp thì coi như họ từ bỏ quyền tham gia phiên họp.Khi đó, dựa trên chứng cứ mà người kháng cáo quá hạn đã cung cấp để chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn của mình, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Đồng thời, khoản 3 Điều 275 BLTTDS quy định rõ nguyên tắc xét lý do kháng cáo của Hội đồng xét kháng cáo, cụ thể: “Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số”.

d. Hồ sơ và thẩm quyền giải quyết kháng cáo

Hồ sơ kháng cáo gồm:

- Đơn kháng cáo

- Tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết.

2. Quy định pháp luật về kháng cáo

Kháng nghị được đưa ra đối với những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đã có hiệu lực nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phát hiện thấy có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiệ1QZn có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản hay một phần quan trọng trong nội dung bản án, quyết định của Tòa án mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định. Nếu không đồng ý với phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát có quyền phản đối, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án. Theo đó, kháng nghị là quyền và nghĩa vụ của một số chủ thể nhất định hoặc theo pháp luật tố tụng, là hoạt động tố tụng của viện kiểm sát theo quy định pháp luật trong việc phản đối vụ án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới đề nghị tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án. Kháng nghị bảo đảm cho viện kiểm sát thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự.

Có ba hình thức kháng nghị: phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

a. Cá nhân, cơ quan có quyền kháng nghị

Viện kiểm sát (VKS) có vai trò kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Theo quy định tại Điều 21 BLTTDS thì VKS có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Theo đó điểm d Khoản 1 Điều 57 BLTTDS quy định Viện trưởng VKS có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án .

Chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm có sự khác biệt so với chủ thể có quyền kháng cáo phúc thẩm. Với kháng cáo phúc thẩm thì pháp luật cho phép nhiều chủ thể có thể kháng cáo, nhưng do xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ nên trong kháng nghị phúc thẩm, pháp luật chỉ quy định một chủ thể duy nhất có quyền kháng nghị đó là viện kiểm sát. Theo đó Điều 278 BLTTDS quy định cho hai cơ quan trong viện kiểm sát là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm; quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

b. Căn cứ, điều kiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

* Thủ tục giám đốc thẩm

- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

+ Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

* Thủ tục tái thẩm

Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. Căn cứ kháng nghị:

+ Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

+ Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

+ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

+ Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

c. Thời hạn kháng nghị

Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định .

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

d. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị

Theo quy định tại Điều 282 BLTTDS thì những phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị thì chưa được thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay như cấp dưỡng, trả tiền công lao động, nhận lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe của công dân. Còn bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Người được thi hành có quyền yêu cầu được thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án đối với phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.