QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN

01 /082017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN

 1. Khái niệm về đại diện

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015): "Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự". Như vậy, có thể thấy rằng đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là người đại diện và người được đại diện. Căn cứ Khoản 2 Điều 134 BLDS 2015, mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự một cách gián tiếp thông qua người đại diện. Tuy nhiên, đối với những giao dịch của cá nhân mà pháp luật bắt buộc không được để người khác đại diện cho mình thì cá nhân đó phải tự mình xác lập, thực hiện (ví dụ như kết hôn...).

Người đại diện còn phải đáp ứng một số điều kiện về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định theo Khoản 3 Điều 134 BLDS 2015.

Về căn cứ xác lập quyền đại diện, theo Điều 135 BLDS 2015 bao gồm các căn cứ sau:

Thứ nhất, xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện, hay còn gọi là đại diện theo ủy quyền;

Thứ hai, xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật, hay còn gọi là đại diện theo pháp luật.

Hành vi đại diện làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện và người thứ ba trong giao dịch dân sự. Cụ thể, theo Điều 139 BLDS 2015, giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện với người thứ ba trong giao dịch. Người đại diện cũng có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện. Tuy nhiên, trong trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.

2. Các hình thức đại diện

a. Đại diện theo pháp luật

Đại diện theo pháp luật của cá nhân.

Căn cứ Điều 136 BLDS 2015, người đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm:

a) Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

b) Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

c) Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện nêu trên.

d) Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Căn cứ Khoản 1 Điều 137 BLDS 2015, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:

a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Khác với cá nhân, theo Khoản 2 Điều 137 BLDS 2015, một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân trong phạm vi và thời hạn nhất định.

b. Đại diện theo ủy quyền

Căn cứ Điều 138 BLDS 2015, mọi cá nhân, pháp nhân đều có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch. Đối với cá nhân, cần đáp ứng điều kiện về chủ thể tham gia quan hệ đại diện là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ trường hợp người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi cũng có thể là người đại diện theo ủy quyền nếu pháp luật quy định giao dịch đó không bắt buộc phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân không thể tự mình tham gia vào các giao dịch dân sự nên các thành viên có thể cử cá nhân, pháp nhân khác (có thể là thành viên của tổ chức hoặc không là thành viên) đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung.

3. Thời hạn và phạm vi đại diện

Về thời hạn đại diện, căn cứ Điều 140 BLDS 2015, việc xác định thời hạn được thực hiện như sau:

Thứ nhất, thời hạn được xác định trước hết căn cứ vào văn bản ủy quyền, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật;

Thứ hai, nếu không xác định được dựa vào các căn cứ trên thì thời hạn được xác định như sau:

a) Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó;

b) Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện.

Đối với đại diện theo ủy quyền còn có thể chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 140 BLDS 2015, bao gồm:

a) Theo thỏa thuận;

b) Thời hạn ủy quyền đã hết;

c) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

d) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;

đ) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

e) Người đại diện không còn đủ điều kiện về năng lực chủ thể;

g) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.

Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 140 BLDS 2015, bao gồm:

a) Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;

b) Người được đại diện là cá nhân chết;

c) Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

d) Căn cứ khác theo quy định của BLDS hoặc luật khác có liên quan.

Về phạm vi đại diện, theo Điều 141 BLDS 2015, người đại diện chỉ được xác lập các giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo các căn cứ sau:

a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

b) Điều lệ của pháp nhân;

c) Nội dung ủy quyền;

d) Quy định khác của pháp luật.

Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định trên thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo Khoản 3 Điều 141 BLDS 2015, một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, người đại diện khi tham gia xác lập, thực hiện giao dịch phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình theo Khoản 4 Điều 141 BLDS 2015.

4. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

Căn cứ Khoản 1 Điều 142, Khoản 1 Điều 143 BLDS 2015, về cơ bản, những giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện đối với bên thứ ba trong giao dịch, trừ các trường hợp sau:

a) Người được đại diện đã công nhận hoặc đồng ý giao dịch;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện.

Những giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không đương nhiên bị vô hiệu mà người đã xác lập vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về toàn bộ giao dịch (trong trường hợp người không có quyền đại diện) hoặc về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện (trong trường hợp vượt quá phạm vi đại diện), trừ trường hợp người đã giao dịch biết và phải biết về việc không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch theo quy định tại Khoản 2 Điều 142, Khoản 2 Điều 143 BLDS 2015.

Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện hoặc người có quyền đại diện nhưng vượt quá phạm vi đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch và yêu cần bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch theo quy định tại Khoản 3 Điều 142, Khoản 3 Điều 143 BLDS 2015.

Ngoài ra, căn cứ Khoản 4 Điều 142, Khoản 4 Điều 143 BLDS 2015, người không có quyền đại diện hoặc người đại diện vượt quá phạm vi đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.