QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

27 /072017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định từ Điều 111 đến Điều 142 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) là điều kiện để quyền và lợi ích của các đương sự được bảo vệ, tránh gây ra thiệt hại không thể khắc phục được, giúp việc thi hành án và quá trình giải quyết vụ án dân sự được thuận lợi.

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc buộc người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện pháp bảo đảm khi đã nộp cho tòa án chứng từ bảo lãnh nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp đó từ người có quyền yêu cầu.

Ngoài ra, trong một số trường hợp, các biện pháp khẩn cấp tạm thời còn được áp dụng để đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của đương sự, đảm bảo quyền và lợi ích của họ, tránh gây ra những thiệt hại không thể khắc phục được.

1. Chủ thể yêu cầu

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của các chủ thể được quy định taij Điều 111 BLTTDS 2015 gồm: Đương sự, người đại diện hợp pháp cho đương sự; cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,...) hoặc Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng trong một số trường hợp luật định theo Điều 135 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2. Thẩm quyền áp dụng

Về nguyên tắc, tòa án xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có yêu cầu. Theo đó, tòa án có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu xét thấy đủ điều kiện để áp dụng biện pháp đó. Căn cứ theo Điều 112 BLTTDS 2015, tùy thuộc vào thời điểm yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc giai đoạn nào của quá trình tố tụng mà thẩm quyền xem xét, quyết định khác nhau.. Cụ thể trước khi mở phiên tòa do một thẩm phán được phân công xem xét, quyết định trong vòng 03 ngày; Đối với tại phiên tòa thì do hội đồng xét xử xem xét, thảo luận tại phòng xử án và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm.

Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp cần phải áp dụng ngay các biện pháp này để bảo vệ chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra thì sau khi nhận đơn yêu cầu kèm với đơn khởi kiện và chứng cứ thì một thẩm phán được phân công sẽ thụ lý giải quyết đơn yêu cầu này trong vòng 48 tiếng; Nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 139 BLTTDS 2015: Có hiệu lực thi hành ngay. Sau khi ra quyết định, Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết định này ngay cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện.

3. Điều kiện áp dụng

Để đảm bảo việc áp dụng đúng đắn các biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cần phải thỏa mãn các điều kiện chung theo Điều 111 BLTTDS 2015 như sau:

- Để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết;

- Để thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được trong trường hợp chứng cứ đang hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy, khó thu thập được;

- Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án của tòa án diễn ra kịp thời, đúng đắn theo quy định của pháp luật;

- Để việc thi hành án đảm bảo thực hiện khi có quyết định, bản án của Tòa án.

4. Thủ tục áp dụng

Người có yêu cầu phải làm đơn dưới hình thức bằng văn bản, kèm theo chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

Sau khi xem xét, nếu chấp nhận yêu cầu đó thì Thẩm phán chỉ được áp dụng đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể mà người yêu cầu đã nêu trong đơn và ra quyết định áp dụng; nếu không đủ căn cứ thì trả lời bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do.

Theo Điều 133 BLTTDS 2015 thì tùy thuộc vào việc yêu cầu trước hay sau thời điểm thụ lý vụ việc mà trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định khác nhau:

- Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện đồng thời với việc nộp đơn, trước khi vụ án được thụ lý: Chánh án tòa án phân công ngay một thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm được nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu đó. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.

- Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện sau khi vụ việc được thụ lý và trước khi mở phiên tòa xét xử: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện xong biện pháp bảo đảm thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu.

- Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xem xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì Hội đồng xét xử ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm. Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu từ thời điểm Hội đồng xét xử ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án; nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử phải thông báo ngay tại phòng xử án và ghi vào biên bản phiên tòa.

Tương tự, trình tự và thủ tục của việc thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện tương tự như trường hợp áp dụng biện pháp khẩn câp tạm thời. Tuy nhiên có một điểm đặc biệt đối với trường hợp hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đã có bản án, quyết dịnh của Tòa án có hiệu lực pháp luật: Khi đó việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do một thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết. Khi ra quyết đinh hủy bỏ, Tòa án phải xử lý đối với chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nộp trong trường hợp phải thực hiên biện pháp bảo đảm theo quy định.

5. Khiếu nại, kiến nghị quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Điều 140 BLTTDS 2015 thì đương sự, viện kiểm sát được quyền khiếu nại, kiến nghị khi không chấp nhận quyết định của thẩm phán hoặc do thẩm phán không đồng ý áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đơn khiếu nại, kiến nghị được gửi lên Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc trả lời của thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Tùy thuộc vào giai đoạn khiếu nại và kiến nghị thì chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết khác nhau, cụ thể: Điều 141 BLTTDS 2015 quy định:

- Trước phiên tòa: việc khiếu nại, kiến nghị sẽ được giải quyết bởi Chánh án Tòa án nơi ra quyết định.

- Tại phiên tòa: việc khiếu nại, kiến nghị sẽ được giải quyết bởi Hội đồng xét xử.

Những quyết định giải quyết trên của Chánh án tòa án, Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.