QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

16 /122017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự (THADS) là biện pháp pháp lý được Chấp hành viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc thi hành án (THA), đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án. Theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) thì có ba biện pháp bảo đảm thi hành án: phong tỏa tài sản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc THADS nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, đảm bảo hiệu lực thi hành của các bản án, bảo vệ quyền lợi cho người được thi hành án. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS phù hợp sẽ được Chấp hành viên áp dụng để tổ chức việc thi hành án. Có ba biện pháp bảo đảm thi hành án gồm: Phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.

1. Đặc điểm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

a. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đảm bảo là tài sản, tài khoản, giấy tờ, đây là các đối tượng sẽ có khả năng được xử lý để THADS.

b. Căn cứ khoản 1 điều 66 Luật thi hành án dân sự thì khi thực hiện biện pháp đảm bảo THADS Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự. Vì mục đích của các biện pháp bảo đảm thi hành án là để ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án nên việc báo trước cho đương sự là không cần thiết.

c. Căn cứ thực hiện các biện pháp bảo đảm thông qua yêu cầu của đương sự hoặc Chấp hành viên tự mình ra quyết định áp dụng khi thấy cần thiết. Bởi đây là quyền của người được thi hành án, việc yêu cầu này đảm bảo cho quyền lợi của họ. Đồng thời là nhiệm vụ và nghĩa vụ của Chấp hành viên khi THADS. Nhưng trường hợp đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm THADS không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm THADS hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường. Trường hợp Chấp hành viên tự mình áp dụng biện pháp bảo đảm THADS không đúng hoặc Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm THADS vượt quá, không đúng theo yêu cầu của đương sự mà gây ra thiệt hại thì Chấp hành viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bởi việc ra quyết định dùng biện pháp bảo đảm khi thấy có dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản của người phải thi hành án cũng chỉ căn cứ theo phán đoán của người yêu cầu hoặc chấp hành viên và có thể phán đoán hay quyết định đó không đúng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị áp dụng biện pháp đảm bảo.

2. Biện pháp phong toả tài khoản

Căn cứ điều 67 luật THADS và điều 20 NĐ 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thi hành án dân sự thì biện pháp này được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành khoản nghĩa vụ trả tiền và các thông tin về điều kiện thi hành án cho thấy người đó đang có tiền trong tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng, tài chính khác. Việc áp dụng biện pháp này có mục đích ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán tài sàn bằng cách rút toàn bộ tiền trong tài khoản, theo đó mọi giao dịch ở đầu ra tài khoản sẽ không thực hiện được hoặc hạn chế thực hiện. Biện pháp này được áp dụng với tài khoản của người phải thi hành án khi có căn cứ xác định người đó đang có tiền trong tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng.

Căn cứ theo điểm a khoản 1 điều 7 Luật THADS thì người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm khi nhận thấy cần ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản đó và có văn bản đề nghị. Đồng thời theo quy định tại khoản 5 điều 20 Luật THADS thì Chấp hành viên có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đảm bảo thi hành án khi tự phát hiện ra hoặc nhận được yêu cầu của người được thi hành án và nhận thấy việc ngăn chặn bằng biện pháp bảo đảm là cần thiết.

Căn cứ điều 67 Luật THADS thì trình tự thực hiện bao gồm những bước sau:

Bước 1: Thu thập thông tin về tài khoản, tài sản gửi giữ

Để xác nhận được tên ngân hành, tổ chức tín dụng cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; Tiếp theo là xác định rõ các thông tin về Tên chủ tài khoản, số tài khoản và số dư trong tài khoản

Bước 2: Ban hành quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản

Bước 3: Giao quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản cho người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và lập biên bản về việc giao quyết định.

Bước 4: Thực hiện quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản.

Quyết định phong tỏa tài khoản được các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa.

3. Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ

Căn cứ điều 68 Luật THADS và điều 18 NĐ 62/2015/NĐ-CP thì việc áp dụng biện pháp bảo đảm thông qua tạm giữ tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại đối với các tài sản, giấy tờ trên.

Tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng, như tiền mặt, kim quý, đá quý. Các tài sản và giấy tờ này có thể là đối tượng của nghĩa vụ THA đã được xác định rõ ràng, cụ thể trong bản án, quyết định hoặc không được xác định trong bản án, quyết định được thi hành nhưng có thể kê biên, xử lý để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán.

Tương tự như ở biện pháp phong tỏa tài khoản, người được thi hành án có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ khi có căn cứ xác nhận việc áp dụng là cần thiết. Theo quy định tại điều 68 Luật THADS thì Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng.

Trình tự áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản như sau:

Bước 1: Xác định tài sản, giấy tờ cần tạm giữ

Tài sản tạm giữ phải có giá trị tương đương và đang do đương sự quản lý, sử dụng

Bước 2: Ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ

Bước 3: Lập biên bản về việc tạm giữ tài sản, giấy tờ

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế. Nếu có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên phải ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ cho người có quyền sở hữu, sử dụng

4. Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Căn cứ theo điều 69 Luật THADS và điều 19 NĐ 62/2015/NĐ-CP thì tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản áp dụng nhằm ngăn chặn đương sự có hành vi hoặc có thể thực hiện hành vi đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng về tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Khi áp dụng biện pháp này, mọi đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản không được công nhận và không có giá trị pháp lý.

Theo quy định tại điều 69 Luật THADS thì đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là bất động sản hoặc là động sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án.

Người phải thi hành án có tài sản thuộc đối tượng tài sản áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản; Chấp hành viên phát hiện đương sự có hành vi hoặc đấu hiệu chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

Căn cứ khoản 1 điều 69 và khoản 1 điều 66 Luật THADS thì Chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu của người được thi hành án có quyền ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án.

Trình tự thực hiện áp dụng biện pháp này như sau:

Bước 1: Xác định loại tài sản

Bước 2: Ban hành quyết định và gửi quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Bước 3: Thực hiện quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định; trường hợp có căn cứ xác định tài sản không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Tiểu kết: Hiện nay, Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự vẫn còn một số hạn chế, bất cập như sau:

Thứ nhất, Pháp luật về thi hành án dân sự chưa quy định rõ như thế nào là tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh thi hành án nên việc xem xét áp dụng dựa vào phán đoán của người Chấp hành viên.

Thứ hai, các giao dịch, kê khai thu nhập, tài sản của một số người dân còn chưa rõ ràng, công khai, gây khó khăn cho việc xác thực của cơ quan thi hành án khi THADS.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.