QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ MỘT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

01 /112017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ MỘT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Sau khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện Luật tố tụng hành chính 2015 quy định chi tiết giai đoạn đối thoại và chuẩn bị xét xử. Giai đoạn này bao gồm hoạt động của cơ quan tố tụng lẫn đương sự như lập hồ sơ vụ án hành chính, tổ chức phiên họp giao nộp chứng cứ, đối thoại giữa hai các bên đương sự, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hành chính hoặc đưa vụ án ra xét xử….

1. Thời hạn của giai đoạn chuẩn bị xét xử trong vụ án hành chính

Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

- 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật này đó là các vụ việc còn thời hiệu như quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc

- 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 của Luật này đó là các vụ việc còn thời hiệu khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”;

Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trong giai đoạn này Thẩm phán có nhiệm vụ quyền hạn như sau căn cứ điều 131 luật tố tụng hành chính 2015.

- Lập hồ sơ vụ án. Điều 132 Luật này quy định : Hồ sơ vụ án hành chính gồm đơn và tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án hành chính. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án hành chính phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm và phải được lưu giữ, quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

- Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ, văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án; yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho đương sự.

- Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này.

- Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của Luật này; trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.

2. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

Theo quy định tại Điều 131 Luật tố tụng hành chính năm 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khởi kiện về danh sách cử tri.

Tuy nhiên, đây không phải là phiên họp giải quyết vụ án mà là một trình tự, thủ tục để Tòa án công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho các đương sự; kiểm tra xem các đương sự có sửa đổi, bổ sung, thay thế, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập hay không; các đương sự có thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, nếu không thống nhất được thì yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề gì; việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác; việc bổ sung tài liệu, chứng cứ; đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa…

3. Đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Vấn đề này đã được trình bày cụ thể tại một bài viết cách đây không lâu trên website này. Quy bạn đọc nào muốn tìm hiểu chi tiết vui lòng tìm kiếm bài viết: “Quy định pháp luật về thủ tục đối thoại trong tố tụng hành chính”.

Với những quy định cụ thể về thủ tục đối thoại trong tố tụng hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, việc Tòa án khuyến khích và tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án trên cơ sở của pháp luật. Đối thoại trong vụ án hành chính còn có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án trong quá trình tiến hành các thủ tục đối thoại giúp quá trình giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác; tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết các vụ án hành chính của tòa án.

Điều 140 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định rất cụ thể về xử lý kết quả đối thoại: Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết định, hành vi bị khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án. Đối với trường hợp này trong quá trình đối thoại thì người khởi kiện vẫn giữ quan điểm cho rằng khiếu kiện bị khởi kiện là trái với quy định của pháp luật trong khi đó người bị kiện vẫn bảo lưu quan điểm cho rằng khiếu kiện do mình ban hành hoặc thực hiện là hợp pháp. Trường hợp này giữa các bên đương sự đã không thể thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án hành chính nên Thẩm phán phải tiến hành thủ tục để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa; Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện và người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Đối với trường hợp này thì đây là hành động từ một phía của người khởi kiện mà không cần có sự thống nhất của người bị kiện vì trong quá trình đối thoại người khởi kiện nhận thức được các quyết định hành chính, hành vi hành chính cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện là đúng với quy định của pháp luật nên họ đã tự nguyện rút đơn khởi kiện, bởi lẽ họ xác định nếu tiếp tục theo đuổi vụ kiện cũng không đạt được kết quả như mong muốn lại mất thêm thời gian, công sức và tiền bạc; Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án. Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Bên cạnh đó, trong trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì tòa án thông báo cho đương sự khác biết. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

4. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Trong giai đoạn này, Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: (điều 141 Luật Tố tụng hành chính 2015)

Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;

- Đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

- Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự;

- Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan;

- Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

- Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó.

- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 142 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Tòa án không xóa tên vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đó để theo dõi. Khi lý do tạm đình chỉ quy định tại Điều 141 của Luật này không còn thì Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án và hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.

5. Đình chỉ giải quyết vụ án

Điều 143 Luật tố tụng hành chính quy định việc Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

- Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;

- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong trường hợp không có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút;

- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút đơn yêu cầu độc lập;

- Người khởi kiện không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu độc lập của họ;

- Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

- Người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu;

- Thời hiệu khởi kiện đã hết;

- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này mà Tòa án đã thụ lý.

Khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Sauk hi tòa án đình chỉ vụ án Hành chính Điều 144 Luật hành chính 2015 quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án như sau:

- Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123, điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 143 của Luật này và trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

6. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đó. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Thẩm phán ra một trong các quyết định quy định trên, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

7. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây:

- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

- Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;

- Tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng;

- Nội dung việc khởi kiện;

- Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có).

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.

Sau khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.