QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ THỜI HẠN VÀ THỜI HIỆU

29 /082017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ THỜI HẠN VÀ THỜI HIỆU

1. Quy định pháp luật về thời hạn

Theo Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) nêu ra khái niệm thời hạn là gì. Theo đó, thời hạn là một khoảng thời gian, được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra.

Về nguyên tắc, thời hạn và cách tính do các bên trong giao dịch thỏa thuận. Theo Khoản 1 Điều 145 BLDS 2015, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác và phát luật cũng không có quy định khác thì cách tính thời hạn được áp dụng theo Bộ luật dân sự.

a. Cách tính thời hạn, thời điểm tính thời hạn

Căn cứ Điều 146 BLDS 2015, tùy từng trường hợp mà cách tính thời hạn, thời điểm tính thời hạn sẽ khác nhau. Cụ thể:

Trường hợp 1: Các bên thỏa thuận thời hạn là một năm, nửa năm, nửa tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút mà khoảng thời gian diễn ra không liền nhau;

Khi đó, thời hạn được tính như sau:

a) Một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày;

b) Nửa năm là sáu tháng;

c) Một tháng là ba mươi ngày;

d) Nửa tháng là mười lăm ngày;

đ) Một tuần là bảy ngày;

e) Một ngày là hai mươi tư giờ;

g) Một giờ là sáu mươi phút;

h) Một phút là sáu mươi giây.

Trường hợp 2: Các bên thỏa thuận về thời điểm đầu tháng, giữa tháng, cuối tháng;

Khi đó, thời điểm này được tính như sau:

a) Đầu tháng là ngày đầu tiên của tháng;

b) Giữa tháng là ngày thứ mười lăm của tháng;

c) Cuối tháng là ngày cuối cùng của tháng.

Trường hợp 3: Các bên thỏa thuận về thời điểm đầu năm, giữa năm, cuối năm;

Khi đó, thời điểm này được tính như sau:

a) Đầu năm là ngày đầu tiên của tháng một;

b) Giữa năm là ngày cuối cùng của tháng sáu;

c) Cuối năm là ngày cuối cùng của tháng mười hai.

b. Thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn

Thời hạn là một khoảng thời gian, do đó, cần phải xác định đâu là lúc bắt đầu, đâu là lúc kết thúc. Thời điểm bắt đầu và kết thúc trước tiên cũng do các bên thỏa thuận. Khi không có thỏa thuận sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự.

Về thời điểm bắt đầu, căn cứ Điều 147 BLDS 2015, thời điểm đó được xác định như sau:

- Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.

- Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.

- Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.

Về thời điểm kết thúc, căn cứ Điều 148 BLDS 2015, thời điểm đó được xác định như sau:

- Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.

- Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.

- Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó.

- Khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn.

- Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.

  1. Các quy định pháp luật về thời hiệu

Theo Khoản 1 Điều 149 BLDS 2015, thời hiệu được hiểu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.

Việc áp dụng thời hiệu chỉ có thể được thực hiện theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc theo quy định tại Khoản 2 Điều 149 BLDS 2015. Khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 cũng có quy định tương tự. Ngoài ra, người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

a. Các loại thời hiệu

BLDS 2015 quy định có 04 loại thời hiệu tại Điều 150, bao gồm:

  1. Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự.
  2. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ.

Về hiệu lực của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự thì theo Điều 152 BLDS 2015, việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự chỉ có hiệu lực sau khi thời hiệu đó kết thúc.

Căn cứ Khoản 1 Điều 153 BLDS 2015, thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt. Tính liên tục được thể hiện ngay cả khi trong trường hợp việc hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự được chuyển giao hợp pháp cho người khác theo quy định tại Khoản 3 Điều 153 BLDS 2015. Các sự kiện làm gián đoạn quy định tại Khoản 2 Điều 153 BLDS 2015 bao gồm:

a) Có sự giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu;

b) Quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp và đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

  1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Pháp luật quy định một số trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 155 BLDS 2015, bao gồm:

a) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.

b) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.

c) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

d) Trường hợp khác do luật quy định.

Thời hiệu khởi kiện cũng có tính liên tục. Tuy nhiên, khi xảy ra một trong các sự kiện quy định tại Điều 156 BLDS 2015, thời gian xảy ra sự kiện đó không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự. Cụ thể:

1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Chẳn hạn: bão, thiên tai, lũ lụt. Các bên có thể thỏa thuận một số sự kiện không được xem là sự kiện bất khả kháng mặc dù sự kiện đó xảy ra đáp ứng đủ các điều kiện trên.

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;

2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:

a) Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;

b) Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.

Trong một số trường hợp, thời hiệu khởi kiện sẽ bắt đầu tính lại. Theo Điều 157 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện được bawsts đầu lại trong các trường hợp sau:

a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện

b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.

Ngày bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là ngày tiếp theo sau ngày xảy ra các sự kiện nêu trên.

  1. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu.

b. Cách tính thời hiệu

Theo Điều 151 BLDS 2015, thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.