QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

27 /082017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Khi một người do lỗi cố ý hoặc vô ý (thậm chí có thể không có lỗi trong một số trường hợp) gây thiệt hại cho người khác (gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín,...) thì phải bồi thường trừ một số tường hợp pháp luật quy định không phải bồi thường. Việc bồi thường phụ thuộc vào mức độ gây thiệt hại, năng lực của người gây thiệt hại cũng như lỗi của các chủ thể. Đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Pháp luật không quy định khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể thấy, trách nhiệm này không phát sinh trên cơ sở hợp đồng mà phát sinh khi một chủ thể bằng hành vi của mình xâm phạm vào quyền lợi được Nhà nước bảo vệ, gây thiệt hại cho chủ thể khác.

1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015, căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm:

Thứ nhất, phải có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

Thứ hai, phải có thiệt hại xảy ra;

Tùy thuộc vào loại thiệt hại thì sẽ phát sịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác nhau. BLDS đã phân loại loại thiệt hại và thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại như sau:

  • Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Căn cứ Điều 589 BLDS 2015, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
  1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
  2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút;
  3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại;
  4. Thiệt hại khác do luật quy định.
  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Căn cứ Khoản 1 Điều 590 BLDS 2015, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
  1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
  2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
  3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
  4. Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài việc phải bồi thường những thiệt hại nêu trên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 590 BLDS 2015, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

  • Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Căn cứ Khoản 1 Điều 591 BLDS 2015, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
  1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015;
  2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
  3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
  4. Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài việc phải bồi thường những thiệt hại nêu trên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 591 BLDS 2015, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Đối với trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, pháp luật còn quy định về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại. Theo Điều 593 BLDS 2015, thời hạn này được quy định như sau:

  • Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
  • Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:

Một là, người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

Hai là, người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

  • Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Căn cứ Điều 592 BLDS 2015, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
  1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
  2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
  3. Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài việc phải bồi thường những thiệt hại nêu trên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 592 BLDS 2015, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Thứ ba, có mối liên hệ giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra, tức hành vi xâm phạm phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại.

Yếu tố lỗi không được xem là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ, dù là lỗi cố ý hay vô ý, thậm chí có một số trường hợp không có lỗi thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường, tức vẫn làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Do đó, lỗi không được xem là một căn cứ phát sinh mà chỉ là căn cứ xác định mức độ bồi thường.

Về nguyên tắc, người nào gây thiệt hại thì phải bồi thường. Tuy nhiên, trong một số tường hợp, thiệt hại không phải do một người cụ thể gây ra mà do tài sản (có thể là động vật) thuộc sở hữu của họ hoặc họ đang chiếm giữ gây thiệt hại. Trong trường hợp này, căn cứ Khoản 3 Điều 584 BLDS 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm (bao gồm thiệt hại do sự kiện bất khả kháng và thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác).

2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Căn cứ Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), việc bồi thường thiệt hại dựa trên những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình;

Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường;

Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Trong trường hợp thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì dĩ nhiên sẽ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác căn cứ theo Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015. Ngoài ra, Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 còn quy định một trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường là thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác;

Thứ năm, bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

3. Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Căn cứ Điều 586 BLDS 2015, năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được quy định như sau:

Thứ nhất, người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tức nếu gây thiệt hại phải tự bồi thường;

Thứ hai, nguời chưa đủ mười lăm tuổi (còn cha, mẹ) chia thành hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại

Trong trường hợp này, cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp thiệt hại gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý người chưa đủ mười lăm tuổi (Khoản 1 Điều 599 BLDS 2015).

Trường hợp 2: Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại.

Trong trường hợp này, người chưa thành niên phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ thì cha, mẹ mới phải bồi thường phần còn thiết bằng tài sản của mình.

Thứ ba, người gây thiệt hại là người được giám hộ.

Trong trường hợp người được giám hộ (bao gồm người chưa thành niên không còn cha, mẹ, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) gây thiệt hại thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

4. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì theo Điều 587 BLDS 2015, những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

5.Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo Điều 588 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.