QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

14 /042018

QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì Tòa án nhân dân cấp Tỉnh có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp, yêu cầu có yếu tố nước ngoài. Theo BLTTDS thì một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam theo 2 cách: Thuộc thẩm quyền chung của tòa án Việt Nam hoặc thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam.

Một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của tòa án Việt Nam nghĩa là pháp luật Việt Nam quy định tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử, song nếu tòa án nước ngoài xét xử vụ việc đó thì phán quyết tương ứng của tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Nếu vụ việc thuộc loại này được đưa lên một tòa án của Việt Nam thì tòa án đó phải xác định tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Nếu vụ việc được đưa lên tòa án nước ngoài và tòa án nước ngoài xác định có thẩm quyền xét xử thì sau khi vụ việc được xét xử ở nước ngoài, bản án có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bởi tòa án Việt Nam.

Về các trường hợp cụ thể nằm trong thẩm quyền chung của tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Điều 469 BLTTDS quy định rõ: Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự nếu bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Trong trường hợp bị đơn là cơ quan tổ chức thì dấu hiệu có trụ sở tại Việt Nam được xem là căn cứ để xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam.

Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền chung để giải quyết các trường hợp vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà bị đơn có tài sản ở Việt Nam, các vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với vụ việc ly hôn thì chỉ cần một trong các bên là công dân Việt Nam thì tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết, ở đây dấu hiệu quốc tịch là căn cứ xác định thẩm quyền.

Ngoài các dấu hiệu về quốc tịch, nơi cư trú, nơi có trụ sở nêu trên thì dấu hiệu sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hoặc dấu hiệu nơi có tài sản là đối tượng của quan hệ cũng được ghi nhận. Cụ thể, nếu có sự kiện pháp lý xảy ra ở Việt Nam và từ sự kiện đó quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác lập, thay đổi, chấm dứt thì vụ việc về quan hệ đó do tòa Việt Nam giải quyết.

Trường hợp khác là quan hệ liên quan đến tài sản mà tài sản lại đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền. Nếu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam có liên quan về quyền và nghĩa vụ hoặc các cá nhân này cư trú ở Việt Nam, các cơ quan tổ chức này có trụ sở ở Việt Nam thì tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền giải quyết.

Còn thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm các loại vụ việc mà đối với tòa án Việt Nam thì chỉ có thể thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam. Nói cách khác là đối với những trường hợp này thì tòa án Việt Nam chỉ thừa nhận phán quyết về vụ việc nếu phán quyết đó là của tòa án Việt Nam, nếu các bên đưa vụ việc ra tòa án nước ngoài xét xử thì phán quyết của tòa án nước ngoài về vụ việc sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Theo Điều 470 BLTTDS năm 2015, thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm các vụ việc liên quan đến bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam; vụ án ly hôn mà cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài tại Việt Nam; yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam; tuyên bố về việc mất tích, chết của công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam hoặc tuyên bố hạn chế năng lực hành vi của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc lập quyền, nghĩa vụ của họ tại Việt Nam.

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền công nhận một tài sản nào đó là tài sản vô chủ hoặc công nhận quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ của người quản lý tài sản đó. Ngoài ra, khi pháp luật cho phép các bên lựa chọn tòa án để giải quyết vụ việc và các bên đã chọn tòa án Việt Nam thì chỉ có tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền.

Và đặc biệt theo quy định tại Điều 471 BLTTDS một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được một Tòa án Việt Nam thụ lý và đang giải quyết nhưng có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài trong quá trình giải quyết thì vẫn phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết.

2. Các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài

Căn cứ Điều 474 BLTTDS thì Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài theo nhiều phương thức khác nhau, bao gồm: Phương thức quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phương thức bưu chính; phương thức thông qua người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện của đương sự tại Việt Nam; phương thức thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và phương thức ngoại giao.

Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp – Bộ Ngoại giao – Tòa án nhân dân tối cao, quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp. Theo đó,Tòa án có thể thực hiện theo 2 phương thức thông qua Bộ Tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao và cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài. Đối với đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài, việc ủy thác tống đạt văn bản sẽ thực hiện qua Bộ Ngoại giao.

Trường hợp việc tống đạt thông qua dịch vụ bưu chính không có kết quả, Tòa án thực hiện việc niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương (theo khoản 3 Điều 474 BLTTDS năm 2015).

3. Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ

Sau khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

Thứ nhất, trường hợp đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 207 của BLTTDS thì Tòa quyết định không mở phiên họp hòa giải khi đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong các phương thức quy định tại khoản 1 Điều 474 của BLTTDS.

Thứ hai, Các đương sự đã nhận được thông báo về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở phiên họp hòa giải mà Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự và họ không đề nghị được vắng mặt tại phiên họp hòa giả thì Tòa quyết định hoãn phiên họp hòa giải.

Thứ ba, Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của BLTTDS

Thứ tư, Nếu Tòa án nhận được văn bản thông báo về việc tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không đúng hoặc đương sự đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa án giải quyết như sau: yêu cầu nguyên đơn và người thân thích trong nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài để tiếp tục tống đạt; Nếu nguyên đơn, người thân thích trong nước của đương sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong nước của đương sự từ chối cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài hoặc đương sự ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

4. Thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài

Căn cứ Điều 479 BLTTDS các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài có thể bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn tháng. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 BLTTDS thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.