QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ DÂN SỰ

15 /082017

QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Trong quan hệ dân sự, luôn tồn tại nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ dân sự có thể tồn tại giữa một bên hoặc các bên chủ thể. Nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng được phát sinh từ một sự kiện mà pháp luật đã dự liệu tới một hậu quả pháp lý nhất định làm hình thành quan hệ pháp luật mà quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ được pháp luật bảo đảm thực hiện.

1. Căn cứ phát sinh và đối tượng của nghĩa vụ dân sự

a. Nghĩa vụ dân sự là gì?

Theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), nghĩa vụ dân sự được hiểu là "việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)".

Từ khái niệm trên, nghĩa vụ dân sự có các đặc điểm sau:

- Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ dân sự: nghĩa vụ dân sự được phát sinh trong giao dịch dân sự. Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự còn thể hiện sự liên kết trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa các bên và được pháp luật bảo đảm thực hiện. Vì vậy nghĩa vụ dân sự là quan hệ dân sự.

- Các bên chủ thể trong nghĩa vụ dân sự luôn được xác định cụ thể: bao gồm bên có nghĩa vụ và bên có quyền.

- Quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể là đối lập nhau: Trong trường hợp các bên đều tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau thì quyền của bên này sẽ làm phát sinh nghĩa vụ với bên kia và ngược lại.

b. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ được quy định tại Điều 275 BLDS 2015 như sau:

"Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

1. Hợp đồng.

2. Hành vi pháp lý đơn phương.

3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.

4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

6. Căn cứ khác do pháp luật quy định."

c. Đối tượng của nghĩa vụ dân sự

Đối tượng của nghĩa vụ dân sự được quy định tại Điều 276 BLDS 2015, bao gồm:

- Đối tượng là tài sản: tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Những tài sản có thể giao địch được mới là đối tượng của nghãi vụ dân sự.

- Đối tượng là công việc: công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện là đối tượng của nghĩa vụ dân sự. Công việc phải thực hiện có thể được hoàn thành trong phạm vi kết quả nào đó như thỏa thuận. Công việc không được thực hiện được các bên thỏa thuận, nếu bên có nghĩa vụ thực hiện công việc đó đồng nghĩa với việc bên có nghĩa vụ đã vi phạm nghĩa vụ. Những công việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm, không trái với đạo đức xã hội mới là đối tượng của nghĩa vụ dân sự.

Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 276 BLDS 2015, đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định. Khi xác định cụ thể đối tượng thực hiện nghĩa vụ thì mới có thể xác định nghĩa vụ tương ứng, phù hợp với điều kiện của đối tượng đó.

2. Thực hiện nghĩa vụ dân sự

a. Địa điểm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự

Thứ nhất, về địa điểm thực hiện nghĩa vụ;

Căn cứ Điều 277 BLDS 2015, địa điểm thực hiện nghĩa vụ trước hết do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm được xác định như sau:

a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;

b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.

Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thứ hai, về thời hạn thực hiện nghĩa vụ;

Căn cứ Điều 278 BLDS 2015, thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định khác. Do đó, bên có nghĩa vụ chỉ được thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn khi bên có quyền đồng ý. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.

Theo Khoản 3 Điều 278 BLDS 2015, trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.

b. Phân loại thực hiện nghĩa vụ dân sự

* Dựa vào đối tượng của nghĩa vụ

Dựa vào đối tượng của nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ được chia thành các loại sau:

Thứ nhất, thực hiện nghĩa vụ giao vật. Việc thực hiện nghĩa vụ giao vật quy định tại Điều 279 BLDS 2015 như sau:

  • Bên có nghĩa vụ giao vật phải bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao;
  • Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ;
  • Bên có nghĩa vụ phải chịu mọi chi phí về việc giao vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thứ hai, thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định tại Điều 280 BLDS 2015 như sau:

  • Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận;
  • Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thứ ba, thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc. Việc thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc quy định tại Điều 281 BLDS 2015 như sau:

  • Nghĩa vụ phải thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng công việc đó;
  • Nghĩa vụ không được thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ không được thực hiện công việc đó.

Thứ tư, thực hiện nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn. Căn cứ Khoản 1 Điều 285 BLDS 2015, nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn "là nghĩa vụ mà đối tượng là một trong nhiều tài sản hoặc công việc khác nhau và bên có nghĩa vụ có thể tùy ý lựa chọn, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định dành quyền lựa chọn cho bên có quyền". Việc thực hiện nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn quy định tại Điều 285 BLDS 2015 như sau:

  • Bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết về việc tài sản hoặc công việc được lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền đã xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ được lựa chọn thì bên có nghĩa vụ phải hoàn thành đúng thời hạn.
  • Trường hợp chỉ còn một tài sản hoặc một công việc thì bên có nghĩa vụ phải giao tài sản đó hoặc thực hiện công việc đó.

* Dựa vào phương thức thực hiện nghĩa vụ

Dựa vào phương thức thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ được chia thành các loại sau:

Thứ nhất, thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ;

Việc thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ quy định tại Điều 282 BLDS 2015 như sau: Nghĩa vụ được thực hiện theo định kỳ theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Việc chậm thực hiện nghĩa vụ theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba.

Việc thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba quy định tại Điều 283 BLDS 2015 như sau: Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

* Dựa vào tính chất của nghĩa vụ

Dựa vào tính chất của nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ được chia thành các loại sau:

Thứ nhất, thực hiện nghĩa vụ có điều kiện. Việc thực hiện nghĩa vụ có điều kiện quy định tại Điều 284 BLDS 2015 như sau:

  • Trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện;
  • Trường hợp điều kiện không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của một bên thì áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 120 BLDS 2015: "Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra".

Thứ hai, thực hiện nghĩa vụ thay thế được. Việc thực hiện nghĩa vụ thay thế được quy định tại Điều 286 BLDS 2015 như sau: Nghĩa vụ thay thế được là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ ban đầu thì có thể thực hiện một nghĩa vụ khác đã được bên có quyền chấp nhận để thay thế nghĩa vụ đó.

Thứ ba, thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ. Việc thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ quy định tại Điều 287 BLDS 2015 như sau: Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình.

Thứ tư, thực hiện nghĩa vụ liên đới. Căn cứ Khoản 1 Điều 288 BLDS 2015, nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ

Việc thực hiện nghĩa vụ liên đới quy định tại Điều 288 BLDS 2015 như sau:

  • Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình;
  • Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ;
  • Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Thứ tư, thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới. Căn cứ Khoản 1 Điều 289 BLDS 2015, nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới là nghĩa vụ mà theo đó mỗi người trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều người có quyền liên đới quy định tại Điều 289 BLDS 2015 như sau:

  • Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bất cứ ai trong số những người có quyền liên đới;
  • Trường hợp một trong số những người có quyền liên đới miễn cho bên có nghĩa vụ không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người có quyền liên đới khác.

Thứ năm, thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần. Căn cứ Khoản 1 Điều 290 BLDS 2015, nghĩa vụ phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ có thể chia thành nhiều phần để thực hiện. Việc thực hiện nghĩa vụ phân chia được theo phần theo quy định tại Khoản 2 Điều 290 BLDS 2015 như sau: bên có nghĩa vụ có thể thực hiện từng phần nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thứ sáu, thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần. Căn cứ Khoản 1 Điều 291 BLDS 2015, nghĩa vụ không phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc. Việc thực hiện nghĩa vụ không phân chia được theo phần quy định tại Khoản 2 Điều 291 BLDS 2015 như sau: trường hợp nhiều người cùng phải thực hiện một nghĩa vụ không phân chia được theo phần thì họ phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.