QUY ĐỊNH CÁC CHI PHÍ THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC NGOÀI ÁN PHÍ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

12 /102017

QUY ĐỊNH CÁC CHI PHÍ THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC NGOÀI ÁN PHÍ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

1. Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (Được quy định cụ thể tại Điều 151 đến Điều 154 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015))

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, có thể xảy ra trường hợp các tài liệu, chứng cứ, hồ sơ, kể cả người làm chứng, người giám định,... mà tòa án cần triệu tập, thu thập đang ở nước ngoài, thì tòa án sẽ tiến hành ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhằm giúp tòa án làm sáng tỏ vụ việc. Theo điều 6 Luật tương trợ tư pháp 2007 thì ủy thác tư pháp là việc mà cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài yêu cầu bằng văn bản thực hiện một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật của nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài sẽ làm phát sinh các chi phí hợp lý chi trả cho việc thực hiện ủy thác đó được gọi là chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Trước đó, để tiến hành được việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài thì nguyên đơn, người yêu cầu, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc các đương sự khác trong vụ viêc dân sự có yêu cầu làm phát sinh việc ủy thác tư pháp thì phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Tiền tạm ứng sẽ do tòa tạm tính. Cuối cùng, khi ra quyết định về giải quyết vụ việc dân sự thì nghĩa vụ nộp tiền chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nếu các bên không có thỏa thuận khác thì được xác định như sau:

- Đương sự phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ việc của họ không được Tòa án chấp nhận.

- Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

- Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

- Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định do nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc nguyên đơn được triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì nguyên đơn phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

- Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

- Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 155 đến Điều 158 BLTTDS 2015)

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đặc biệt những vụ việc có liên quan đến bất động sản thì đòi hỏi cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ, là căn cứ để xác định trách nhiệm mỗi bên cũng là cơ sở để tính các loại án phí sơ thẩm. Theo đó, chi phí dùng để chi trả cho hoạt động xem xét, thẩm định tại chỗ sẽ do người có yêu cầu thẩm định nộp trước mà Tòa án tạm tính trước để đảm bảo cho hoạt động này. Ngoài ra nếu không có yêu cầu nhưng tòa án xét thấy cần thiết phải xem xét, thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầ giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Khi tuyên án, tòa án sẽ xác định nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm đinh tại chỗ nếu các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì tại Điều 157 BLTTDS 2015:

- Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

- Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

- Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

- Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định do nguyên đơn rút dơn khởi kieenh hoặ nguyên đơn được triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

- Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc được tòa án triệu tập hợp lệlần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

- Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của BLTTDS 2015 thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

3. Chi phí giám định (Điều 159 đến Điều 162 BLTTDS 2015)

Trước khi việc giám định được tiến hành, cần phải xác định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định thuộc về ai:

- Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.

- Trường hợp các bên đương sự yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định về cùng một đối tượng thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí giám định.

- Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định trưng cầu giám định thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.

- Đương sự, người có yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng cáo đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định mà không được chấp nhận và tự mình yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định thì việc nộp tiền tạm ứng chi phí giám định được thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp.

Chi phí giám định được xác định khi đương sự có yêu cầu tòa án trưng cầu giám định cho mình và có nghĩa vụ phải trả chi phí giám định. Về nguyên tắc, nghĩa vụ này sẽ do người có lỗi trong việc giám định chịu. Do vậy trong trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác thì nghĩa vụ chịu chi phí giám định theo quy định tại Điều 161 BLTTDS 2015.

Cuối cùng, cần phải xử lý số tiền tạm ứng chi phí giám định đã nộp khi giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể tòa án sẽ quyết định người đã nộp tạm ứng:

- Hoàn trả lại phần tiền còn thừa nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí giám định thực tế;

- Nộp thêm phần tiền còn thiếu nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhưng chưa đủ cho chi phí giám định thực tế.

4. Chi phí định giá tài sản (Điều 163 đến Điều 166 BLTTDS 2015)

Tòa án quyết định định giá tài sản theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình quyết định thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản sẽ do người có yêu cầu lên hội đồng định giá tài sản.

Để đảm bảo thực hiện việc định giá tài sản, Tòa án xác định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo Điều 160 BLTTDS 2015 thuộc về ai. Cuối cùng, khi ra quyết định về việc giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải ra quyết định nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá tài sản của các đương sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác hoặc luật không có quy định khác thì căn cứ theo Điều 161 BLTTDS 2015 để xác định nghĩa vụ nộp chi phí định giá.

Cuối cùng, cần phải xử lý số tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản đã nộp khi giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể tòa án sẽ quyết định người đã nộp tạm ứng:

- Hoàn trả lại phần tiền còn thừa nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí giám định thực tế;

- Nộp thêm phần tiền còn thiếu nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhưng chưa đủ cho chi phí giám định thực tế.

5. Chi phí làm chứng (Điều 167 BLTTDS 2015)

Chi phí làm chứng chỉ phát sinh khi người làm chứng được tòa án triệu tập đến để tham gia tố tụng, làm chứng trong giải quyết vụ việc dân sự. Chí phí làm chứng trên cơ sở mức chi thực tế và hợp lý, bao gồm chi phí đi lại, ở, tiền thù lao cho người làm chứng.

Tòa ám quyết định đương sự phải chịu các chi phí làm chứng theo nguyên tắc:

- Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng nếu lời làm chứng phù hợp với sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị.

- Trường hợp lời làm chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng thì chi phí này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị chịu.

6. Chi phí phiên dịch, luật sư (Điều 168 BLTTDS 2015)

a. Chi phí phiên dịch

Chi phí cho người phiên dịch khi họ được tòa án triệu tập đến tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Chi phí này được tính theo mức chi thực tế, hợp lý và trên cơ sở pháp luật có quy định. Tuy nhiên đương sự cũng có thể thỏa thuận với người phiên dich.

Đương sự phải chịu chi phí phiên dịch nếu có yêu cầu phiên dịch, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Chỉ khi nào tòa án yêu cầu người phiên dịch thì khi đó tòa án mới chịu chi phí phiên dịch.

b. Chi phí luật sư

Chi phí luật sư được trả khi có yêu cầu của đương sự về việc tham gia tố tụng của luật sư và các khoản thù lao do hai bên có thỏa thuận theo hồ sơ nội dụng vụ việc, tính chất phức tạp và yêu cầu công việc. Luật sư thường ký với khách hàng bản Hợp đồng trong đó có nói là khoản tiền thù lao sẽ được xác định theo bảng giá với các mức giá qui định đối với thù lao ngoài thỏa thuận. Chi phí luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Theo đó mức thù lao cố định tính theo kết quả là khi Tòa quyết định khoản tiền thù lao cho Luật sư (của bên thắng kiện), không phụ thuộc vào chuyện Luật sư và thân chủ đó thỏa thuận thế nào, có áp dụng bảng giá Luật sư theo công làm việc hay không, Tòa sẽ quyết định là bên thua kiện phải trả cho bên thắng kiện các chi phí thuê Luật sư theo bảng giá có trong Thông cáo nói trên.

Ngoài ra thù lao có thể tính theo giá trị phần trăm kết quả đạt được của vụ án.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.