PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN/QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI HOẶC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

11 /042018

PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN/QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI HOẶC PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì bất kỳ một bản án hay quyết định (dân sự) của cơ quan tài phán nước ngoài muốn có hiệu lực tại Việt Nam thì phải được toà án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành.

Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về dân sự của Toà án nước ngoài và Quyết định của Trọng tài nước ngoài có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo khả năng thi hành các bản án, quyết định đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên. Từ đó, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án cũng như tránh tình trạng về cùng một vụ việc nhưng lại bị xét xử hai lần.

1. Các loại quyết định của Tòa án nước ngoài được xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Bản án, quyết định của Toà án nước ngoài theo nguyên tắc dựa trên cơ sở điều ước quốc tế. Theo điểm a và b khoản 1 Điều 423 BLTTDS 2015 thì các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài gồm :“Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” hay “quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài”.

Quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài. Khoản 2 Điều 423 BLTTDS 2015, “Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam” như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này”.

Đặc biệt, những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài phải có hiệu lực pháp luật. Khoản 1 Điều 427 BLTTDS 2015 quy định “Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp luật”.

2. Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại khi xem xét yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.

Ngoài việc xem xét, công nhận và cho thi hành theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam và quốc gia đó là thành viên, BLTTDS 2015 còn có quy định “bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại” (điểm b khoản 1 Điều 423 BLTTDS 2015).

Đối với phán quyết của của Trọng tài nước ngoài được thực hiện tương tự như bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài. Và cũng đặc biệt lưu ý là Phán quyết của Trọng tài nước ngoài nêu trên chỉ được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 424 BLTTDS.

Riêng các bản án, quyết định quy định tại Điều 439 BLTTDS thì có một số bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận cho thi hành tại Việt Nam như: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; chưa có hiệu lực; Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định.

3. Chủ thể yêu cầu về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài

Theo khoản 1 Điều 425 BLTTDS 2015, “Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu”.

Với quy định trên, người yêu cầu “công nhận và cho thi hành tại Việt Nam” là “Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. TuyType equation here. nhiên, để người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ “có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành”, điều luật còn đặt ra điều kiện:“vào thời điểm yêu cầu” thì “cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành”. Do đó, nếu thiếu điều kiện vừa nêu thì họ chưa được yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”.

3. Gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành

Đơn yêu cầu có nội dung chính đáp ứng quy định tại Điều 433 BLTTDS về nội dung, về người phải thi hành, và yêu cầu của người được thi hành. Đơn được người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam. Tuy nhiên theo Điều 432 BLTTDS thì "gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền" như vậy quy định này sẽ gây bối rối cho người nước ngoài vì họ không biết được có hay không điều ước có liên quan để gửi đơn đến đúng nơi quy định là Bộ Tư pháp hoặc Tòa án cấp tỉnh nơi người phải thi hành cư trú, có trụ sở hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành.

4. Chuyển, thụ lý hồ sơ và xét đơn yêu cầu công nhận cho thi hành

Điều 435 BLTTDS quy định “trường hợp Bộ Tư pháp nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 434 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền”.

Tiếp đó là thủ tục thụ lý hồ sơ của Toà án, Điều 436 BLTTDS quy định “trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến, Tòa án căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ lý hồ sơ và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp”

Theo đó Toà án “xem xét, thụ lý hồ sơ” nên tuỳ vào hoàn cảnh mà Toà án căn cứ vào hai điều luật vừa được liệt kê để thụ lý hay từ chối thụ lý. Trong thời hạn 05 ngày nêu trên, Toà án phải “thông báo” cho một số đối tượng được nêu trong điều luật và không lệ thuộc vào việc các đối tượng này có nhận được thông báo trong thời hạn 5 ngày hay không.

5. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Căn cứ Điều 437 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời hạn này, tòa án xem xét, làm rõ hồ sơ và tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

- Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;

- Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;

- Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Ngoài ra nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp đơn yêu cầu, BLTTDS còn quy định trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định (khoản 6 Điều 438 BLTTDS). Việc cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như nêu trên là thuyết phục để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án sau này.

6. Phiên họp xem xét đơn yêu cầu

Theo quy định tại Điều 438 BLTTDS thì việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ; nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất thì phải hoãn phiên họp. Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.