PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ (PHẦN 2)

20 /012018

PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ (PHẦN 2)

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) thì thành phần của đương sự trong tố tụng dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự và người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự. Trong đó:

1. Nguyên đơn

a. Xác định tư cách nguyên đơn

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do BLTTDS 2015 quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm, tức là để phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án, là cơ sở để bắt đầu giải quyết vụ án dân sự phải có nguyên đơn khởi kiện. Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những yêu cầu sau:

Thứ nhất, các chủ thể này cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, xuất phát từ ý chí chủ quan họ chủ động tham gia tố tụng; và

Thứ hai, cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách nguyên đơn khi họ thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước do mình phụ trách bằng việc nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.

Thứ ba, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Để tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS thì nguyên đơn phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi TTDS để tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự và được Tòa án thụ lý thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được xác định là nguyên đơn. Nếu cá nhân là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà được người đại điện khởi kiện thì người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự được bảo vệ quyền lợi là nguyên đơn. Khi cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì người được bảo vệ quyền lợi chính là nguyên đơn, còn chủ thể khởi kiện vì lợi ích của người khác được xác định là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn.

Thứ tư, phải có đơn khởi kiện và có đầy đủ nội dung được quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015.

Ngoài ra, trong trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung trong tranh chấp mà cùng khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết quan hệ nội dung tranh chấp đó thì TA thụ lý đơn khởi kiện của bên nào trước thì bên đó được xác định là nguyên đơn.

Bên cạnh đó, ngoài nguyên đơn là người có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của cá nhân, lợi ích công cộng thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng trở thành nguyên đơn trong trường hợp:

+ Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn.

+ Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn .

b. Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn

Bao gồm toàn bộ các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự quy định tại Điều 70 BLTTDS 2015 và các quyền và nghĩa vụ đặc biệt của nguyên đơn:

Thứ nhất, thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình trước phiên tòa sơ thẩm, còn tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chỉ được thay đổi, bổ sung yêu cầu không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu . Tương tự việc thay đổi yêu cầu thì việc rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện chỉ được thực hiện quyền này trước khi xét xử sơ thẩm hay tại phiên toà sơ thẩm. Việc thực hiện quyền thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện hay rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện dẫn đến hậu quả pháp lý là vụ án bị đình chỉ giải quyết hoặc đình chỉ xét xử theo quy định tại Điều 217 và Khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015.

Thứ hai, chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

2. Bị đơn

a. Xác định bị đơn

Bị đơn là chủ thể không thê thiếu trog quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án. Khi xác định được tư cách của nguyên đơn thì tư cách của bị đơn cũng được xác định. Khác với nguyên đơn tham gia tố tụng một cách chủ động thì bị đơn tham gia một cách bị động, bị bắt buộc tham gia tố tụng. Theo Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015 thì: Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do BLTTDS 2015 quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Một cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định là bị đơn trong vụ án dân sự khi:

Thứ nhất, bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện.

Thứ hai, Bị đơn được giả thiết có vi phạm hoặc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ với nguyên đơn. Việc xác định quyền lợi của bị đơn có xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn hay không phải dựa vào quyết định của Tòa án.

Thứ ba, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Cũng như nguyên đơn bị đơn cũng phải đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể tham gia tố tụng.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án thì nguyên đơn cũng có thể trở thành bị đơn, theo Điều 245 BLTTDS 2015 thì nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn. Hay nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

b. Quyền và nghĩa vụ của bị đơn

Bao gồm toàn bộ các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự quy định tại Điều 70 BLTTDS 2015 và các quyền và nghĩa vụ đặc biệt của bị đơn :

Thứ nhất, được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn về việc Tòa án đã thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án. Khi nhận được thông báo bị đơn phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập nếu có cho Tòa án theo thời hạn trong thông báo.

Thứ hai, chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bị đơn có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu để chứng minh việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập theo quy định tại Điều 92 BLTTDS 2015.

Thứ ba, đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Lúc này bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 BLTTDS 2015 đối với yêu cầu phản tố. Nếu Bị đơn đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì bị đơn cũng có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn đối với yêu cầu độc lập đó. Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự

a. Xác định người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Đương sự trong vụ án dân sự ngoài nguyên đơn, bị đơn thì còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bởi khi giải quyết vụ án dân sự để giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì có thể ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của người thứ ba. Nhằm đảm bảo giải quyết vụ án một cách triệt để, công bằng thì cần có sự tham gia của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015 thì: Khác với nguyên đơn và bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không phải người khởi kiện cũng không là người bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được chủ động đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc theo yêu cầu của Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tức họ tham gia tố tụng vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập hay còn gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng cùng với phía nguyên đơn hoặc bị đơn.

Yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xem là yêu cầu độc lập khi việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết, họ cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn, nên yêu cầu của họ chỉ chống nguyên đơn hoặc chỉ chống lại bị đơn. Tuy nhiên trong mọi trường hợp yêu cầu của họ đều độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn. Đồng thời vì có yêu cầu độc lập với cả nguyên đơn và bị đơn mà nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đủ điều kiện pháp lý để kiện vụ án dân sự để TA giải quyết yêu cầu của mình, nhưng do vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn, nên họ phải tham gia tố tụng để để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu không muốn khởi kiện một vụ án khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập là người chỉ có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan, bởi họ có quyền hoặc lợi ích gắn liền với nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không có quyền đưa ra yêu cầu độc lập mà yêu cầu của họ phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn. Nên họ không đủ điều kiện để khởi kiện một vụ án dân sự mới mà quyền lợi, nghĩa vụ của họ sẽ được giải quyết ngay trong vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn.

b. Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Căn cứ Điều 73 BLTTDS 2015 thì quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tương ứng với quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn theo Điều 71 BLTTDS 2015 nếu có yêu cầu độc lập hoặc không có yêu cầu độc lập mà có yêu cầu gắn với nguyên đơn; còn không có yêu cầu độc lập mà có yêu cầu gắn với bị đơn thì sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng với bị đơn theo quy định tại Điều 72 BLTTDS 2015.

4. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự

Căn cứ vào bản chất việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp yêu cầu công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nên sẽ không có “nguyên đơn” và “bị đơn” như trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự mà gọi là người có yêu cầu.

Căn cứ Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức để được xác định là người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc Tòa án xác định sự kiện pháp lý, công nhận hoặc không công nhận quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Và có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi hợp pháp.

5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nội dung yêu cầu dân sự liên quan đến việc công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền dân sư, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động như: tuyên bố một người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; yêu cầu tuyên bố một người vắng mặt nơi cư trú, tuyên bố một người người mất tích hoặc đã chết... nên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự có thể là chính là các đối tượng bị yêu cầu tuyên bố hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị yêu cầu tuyên bố mất tích, bị yêu cầu tuyên bố chết.. việc việc giải quyết yêu cầu dân sự liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của những người đó. Nhưng điều này sẽ không hợp lý nếu những người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích… là người có quyền nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải triệu tập họ tham gia tố tụng và bảo đảm cho họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của BLTTDS 2015 như: tống đạt các văn bản tố tụng, quyền khiếu nại, kháng cáo bởi một người đã có kết luận của cơ quan chuyên môn là mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc một người hiện đang biệt tích, không biết còn sống hay đã chết mà Tòa án lại yêu cầu họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng như có mặt tại phiên họp, đưa ra các chứng cứ chứng minh.. thì không thể thực hiện được. Các quyền và nghĩa vụ tố tụng chỉ áp dụng với họ trong một sự kiện pháp lý mới khi họ trở về sau tuyên bố mất tích, hay phục hồi năng lực hành vi dân sự và họ có yêu cầu Tòa án hủy các quyết định tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với họ, nhưng đó là trong một vụ việc dân sự khác.

Ngoài ra, những người có quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh từ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu dân sự là người có quyền nghĩa vụ liên quan như người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (quyền thừa kế), quan hệ tài sản hoặc các quan hệ dân sự khác, mà khi giải quyết việc dân sự sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ.

6. Người tham gia tố tụng khác

a. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo quy định tại Điều 75 BLTTDS 2015 thì chủ thể tham gia tố tụng với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự gọi là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Điều kiện để chủ thể này tham gia vào tố tụng của vụ án đó là:

Thứ nhất, khi đương sự yêu cầu

Thứ hai, phải được Tòa án chấp nhận. Các đối tượng được Tòa chấp nhận được quy định tại Khoản 2 Điều 75 BLTTDS 2015, các chủ thể này này phải đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự với Tòa án, nếu đủ điều kiện Tòa sẽ vào sổ đăng ký và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự .

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể tham gia trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng, từ khi khởi kiện hoặc phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm. Trường hợp vụ án có nhiều đương sự và quyền của họ không đối lập nhau thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ cho tất cả họ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong tố tụng dân trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự nên để bảo vệ cho đương sự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập chứng cứ đề bảo vệ cho đương sự mà mình bảo vệ. Nhất là khi biết được các tài liệu, chứng cứ lời khai, biên bản giám định người bảo về quyền và lợi ích nắm được diễn biến của vụ án mà còn đưa ra được hướng giải quyết, giành quyền lợi cho thân chủ của mình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền tham việc hòa giải, phiên họp, phiên tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét, để có thể tư vấn cho đương sự.

b. Người làm chứng

Theo quy định tại Điều 77 BLTTDS 2015 thì người biết các tình tiết có liên quan đến vụ việc, được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người làm chứng chỉ có thể tham gia vào vụ án khi được Tòa án triệu tập và theo đó người làm chứng có nghĩa vụ có mặt tại Tòa để khai báo một cách trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm về lời khai của mình nếu khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, vắng mặt không có lý do chính đáng.

c. Người giám định

Căn cứ Điều 79 BLTTDS 2015 thì Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định mà Tòa án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định.

Để tham gia vụ án người giám định cần có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết về lĩnh vực cần giám định, bằng kến thức chuyên môn của mình người giám định có trách nhiệm kết luận về những vấn đề mà Tòa án, đương sự yêu cầu giám định, và họ phải chịu trách nhiệm về kết luận giám định của mình.

Quyền và nghĩa vụ của người giám định theo quy định tại Điều 80 BLTTDS 2015 như sau:

Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám định; Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định; Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trình bày, giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan; Phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về việc không thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn, tài liệu cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng được; Phải bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không thể giám định được; Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định;

d. Người phiên dịch

Căn cứ Điều 81 BLTTDS 2015 thì Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói cũng được coi là người phiên dịch.Điều kiện để người phiên dịch tham gia tố tụng là:

Thứ nhất, đương sự là người nước ngoài, người dân tộc sinh sông trên lãnh thô Việt Nam, hoặc người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe.

Thứ hai, khi được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn hoặc có yêu cầu của Tòa án;

Thứ ba, đối với yêu cầu của đương sự phải được Tòa án chấp nhận cho đưa vào vụ án;

Theo quy định tại Điều 82 BLTTDS 2015 thì người phiên dịch Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; Phải phiên dịch trung thực, khách quan, đúng nghĩa; Đề nghị người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng giải thích thêm nội dung cần phiên dịch; Không được tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan, đúng nghĩa khi phiên dịch;

e. Người đại diện

Theo quy định tại Điều 85 BLTTDS 2015 thì Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Theo quy định của BLDS và BLTTDS 2015 thì:

Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Cụ thể:

Đại diện theo pháp luật của cá nhân là Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện.

Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Đương sự trong tố tụng dân sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự có thể ủy quyền hợp pháp bằng văn bản cho cá nhân, pháp nhân khác tham gia tố tụng với tư cách đại diện ủy quyền.

Người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện hay theo văn bản ủy quyền.

Các chủ thể tham gia tố tụng đóng vai trò quan trong việc giải quyết vụ việc dân sự, từ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt vụ việc đến tranh tụng, bảo vệ quyền lợi các bên. Nên để đảm bảo các chủ thể tham gia tố tụng một cách công bằng, bảo vệ quyền lợi một cách tối đa thì cần tuân thủ các quyền và nghĩa vụ được pháp luật tố tụng dân sự quy định.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.