PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ (PHẦN 1)

17 /012018

PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ (PHẦN 1)

Người tham gia tố tụng là người tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc hỗ trợ Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Theo quy định từ Điều 68 đến Điều 90 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì người tham gia tố tụng có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng với tư cách là đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định và người phiên dịch. Việc xác định tư cách của các cơ quan, tổ chức, cá nhận trong tố tụng dân sự thông qua việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện, chủ thể bị khởi kiện hoặc có quyền yêu cầu, có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu; Căn cứ vào sự liên quan về quyền và nghĩa vụ và vào thời điểm tham gia tố tụng để xác định tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền nghĩa vụ liên quan.

1. Đương sự trong vụ việc dân sự

Đương sự trong tố tụng dân sự là một trong những chủ thể không thể thiếu trong quá trình giải quyêt vụ việc dân sự của Tòa án, bởi họ là nguyên nhân, mục đích của quá trình tố tụng, là cơ sở cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự và giới hạn phạm vi giải quyết vụ việc của Tòa án. Họ tham gia vào quá trình tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc có thể là của người khác mà đang có tranh chấp hoặc cần được xác định trong vụ việc dân sự, họ tham gia một cách tự nguyện hoặc bắt buộc phải tham gia nhưng cuối cùng cũng chỉ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các đương sự bình đẳng với nhau trong tố tụng, họ có thể tham gia tố tụng một cách độc lập hoặc thông qua người đại diện. Họ bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ tố tụng, có quyền lợi như nhau khi tham gia tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Họ có quyền năng mà các chủ thể khác không có, có quyền tự định đoạt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, làm cơ sở phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoạt động tố tụng dân sự. Bởi trong một quan hệ pháp luật dân sự mà các bên không thống nhất được vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ, họ mới khởi kiện hoặc nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, khi đó phát sinh tư cách mới là đương sự, và đồng thời, phát sinh các quyền và nghĩa vụ mới được điều chỉnh bởi BTTDS. Đồng thời, khi các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thì cũng là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác như Tòa án, Viện Kiểm Sát và những người tham gia tố tụng khác.

Đương sự trong tố tụng dân sự bao gồm đương sự trong vụ án dân sự và đương sự trong vụ việc dân sự, và dù trong vụ án hay vụ việc họ đều có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tranh chấp hoặc yêu cầu cần giải quyết. Theo đó: Cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch; Cơ quan theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự là cơ quan nhà nước; Và tổ chức là các đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp .

2. Xác định năng lực chủ thể, thành phần, tư cách của đương sự

a. Năng lực chủ thể của đương sự trong tố tụng dân sự

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, mà đương sự là một loại chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên để tham gia vào quan hệ này đương sự cần phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự (NLPL TTDS) và năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHV TTDS).

* Năng lực pháp luật tố tụng dân sự

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 BLTTDS thì: Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự. NLPL TTDS của cá nhân phát sinh khi người đó được sinh ra và chấm dứt khi người đó chết nếu như quyền và lợi ích của họ không có người thừa kế; tương tự cá nhân, NLPL TTDS của cơ quan, tổ chức xuất hiện khi được thành lập và chấm dứt khi không còn tồn tại mà quyền và nghĩa vụ của cơ quan đó không được thừa kế.

NLPL TTDS của cơ quan, tổ chức, cá nhân là như nhau, bình đẳng với nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

* Năng lực hành vi tố tụng dân sự

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLTTDS thì: Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng cảu đương sự, bằng chính hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự. NLHV TTDS được xác định dựa trên khả năng chủ quan của chính các đương sự, đó là khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của một cá nhân. Nhưng không phải chủ thể nào cũng có mức độ NLHV TTDS như nhau. Nếu đương sự là cá nhân thì có các loại sau:

(i) Đối với đương sự chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) thì không có NLHV TTDS, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

(ii) Đối với đương sự từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi:

- Nếu đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Quy định này xuất phát từ Bộ luật lao động 2012 và Bộ luật dân sự 2015 thì người đủ 15 tuổi có quyền ký kết hợp đồng lao động hoặc người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Trường hợp này Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng.

- Các trường hợp còn lại thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

  1. Khi cá nhân đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác thì có NLHV TTDS đầy đủ. Cá nhân có NLHV TTDS đầy đủ thì họ có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự.

Đối với đương sự là cơ quan, tổ chức thì tham gia tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

3. Quyền và nghĩa vụ chung của đương sự trong tố tụng dân sự

Để đảm bảo các đương sự có điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tố tụng đồng thời việc bảo đảm vụ việc dân sự được giải quyết một cách công bằng, đúng quy định pháp luật, kịp thời thì theo quy định tại Điều 70 BLTTDS các đương sự có các quyền và nghĩa vụ cụ thể mà ở đó các đương sự bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự.

a. Các quyền thể hiện sự tự định đoạt của đương sự

Pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự luôn tôn trọng ý chí của các chủ thể nên các đương sự cũng được xác lập quyền, nghĩa vụ căn cứ vào sự tự định đoạt như:

a. Quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó và các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự .

b. Quyền đề nghị Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Yêu cầu áp dụng BPKCTT để giải quyết yêu cầu cấp bách bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe hoặc chứng cứ.. đương sự có thể yêu cầu áp dụng BPKCTT vào bất kỳ lúc nào trong quá trình tố tụng kể từ thời thời điểm gửi đơn khởi kiện. Và yêu cầu hủy bỏ khi xét thấy không cần thiết hay nghĩa vụ đã được thực hiên không cần BPKCTT nữa.

c. Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành. Pháp luật tố tụng dân sự tôn trọng ý chí của các chủ thể nên ưu tiên cho các đương sự có thể tự hòa giải, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết mâu thuẫn, xung đột giữa họ mà không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Và Tòa án giúp đỡ các đương sự bằng việc tổ chức hòa giải và công nhận sự hòa giải, thỏa thuận của các đương sự.

d. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Căn cứ Điều 9 BLTTDS về bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự. Theo đó đương sự có thể tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng. Nhưng việc nhờ người khác phải tuân theo quy định tại Điều 75, 76 BLTTDS để không làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền, lợi của các đương sự khác.

e. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Khi có các căn cứ do pháp luật quy định tại Điều 52, 53, 54và Điều 60 BLTTDS thì đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

f. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định BLTTDS. Mặc dù theo quy định tại Điều 214 BLTTDS thì khi có căn cứ theo luật định Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, nhưng đương sự cũng có quyền yêu cầu khi phát hiện các căn cứ để tạm định chỉ.

g. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm trong thời gian bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi không đồng ý với việc ra quyêt định của Tòa án.

h. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này giúp các đương sự có thêm cơ hội tố tụng khi không đồng ý với các bản án, quyết định đã tuyên, thông qua đó bảo vệ quyền, lợi hợp pháp cảu họ đồng thời giúp Tòa án cấp trên có thể sửa chữa sai lầm của Tòa án cấp dưới.

b. Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong cung cấp chứng cứ, chứng minh

Nhằm bảo vệ được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình thì các đương sự cần thự hiện tốt việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho quyên, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó:

a. Đương sự phải cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo Điều 6 BLTTDS về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự thì việc cung cấp chứng cứ và chứng minh vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự. Khi đưa ra yêu cầu thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

b. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án. Đương sự có quyền và nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, nhưng không phải chứng cứ nào cũng do đương sự nắm giữ mà do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nắm giữ, quản lý. Nên pháp luạt tố dụng dân sự cho phép đương sự được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình.

c. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản. Đương sự có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ. Nhưng việc các cơ quan, tổ chức cá nhân đó dễ dàng cung cấp cho đương sự là một vấn đề khác, gây khó khăn cho đương sự trong quá trình thu thập, cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Nên khi họ đã làm mọi cách mà không thu thập được thì có quyền gửi đơn trình bày và yêu cầu tòa án thu thập tài liệu.

d. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS. Đương sự có quyền được Tòa án công khai tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để biết về các chứng cứ đó. Tòa án tạo điều kiện cho các đương sự tự sao chụp tài liệu, chứng cứ. Nhưng chỉ được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập còn các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án không công khai.

c. Các quyền và nghĩa vụ khác của đương sự

Ngoài hai nhóm quyền quan trọng trên thì để đảm bảo hơn cho các đương sự có điều kiện thuận lợi nhất tham gia tố tụng, pháp luật tố tụng dân sự còn quy định các quyền và nghĩa vụ khác cho đương sự như:

a. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Việc thông báo chỉ xem là hợp lệ nếu thực hiện đúng các quy định của BLTTDS thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng từ Điều 170 đên Điều 181 BLTTDS.

b. Tham gia phiên tòa: đây là quyền cũng như nghĩa vụ của đương sự. Đương sự có thể tham gia phiên tòa hoặc không tham gia nhưng phải có đơn đề nghị Tòa xét xử vắng mặt hoặc cử đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa.

c. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng. Theo nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử thì đương sự có quyền tranh luận để bảo vệ quyền lọi cho mình.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.