Luật Hình Sự

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ quyền hạn là 2 tội danh được quy định tại Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi nguy hiểm gây ảnh hưởng lớn đến trật tự xã hội. Thông qua bài viết dưới đây, Chuyên tư vấn luật sẽ hướng dẫn Quý khách hàng phân biệt được tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ quyền hạn một cách chính xác nhất.

Phân biệt tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ quyền hạnPhân biệt tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn, tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ: là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

(Điều 356, 357 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Các yếu tố cấu thành tội phạm

Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn. Theo Khoản 2 Điều 352 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

Nếu người gây thiệt hại cho xã hội không có dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn thì hành vi gây thiệt hại có thể cấu thành một tội phạm khác. Dấu hiệu về chủ thể đặc biệt chỉ yêu cầu người phạm tội, trong trường hợp đồng phạm thì những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức không cần dấu hiệu trên đây

Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Động cơ phạm tội là động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Động cơ vụ lợi là động cơ mưu cầu lợi ích vật chất cho mình, cho người khác hoặc cho một nhóm người nào đó. Động cơ cá nhân khác có thể là củng cố địa vị, uy tín cá nhân hoặc quyền lực cá nhân mà không mưu cầu lợi ích vật chất…

Khách thể của tội phạm

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trực tiếp xâm hại đến sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức; làm cho các cơ quan tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước.

Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ. Theo đó, làm trái công vụ là không làm hoặc làm không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ được giao.

Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc, cụ thể là hành vi phạm tội phải gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Hậu quả của tội phạm rất đa dạng, chúng có thể là những thiệt hại mang tính vật chất như tính mạng, sức khỏe, tài sản nhưng cũng có thể là những thiệt hại phi vật chất như uy tín, danh dự, nhân phẩm con người… Khi có hậu quả xảy ra thì hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ bị coi là tội phạm.

Thủ đoạn phạm tội là lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tức là người phạm tội sử dụng quyền hạn được giao như là một phương tiện phạm tội để thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, tội phạm này hoàn toàn không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản.

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Khách thể của tội phạm

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trực tiếp xâm hại đến sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức; làm cho các cơ quan tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nước.

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

  • Thủ đoạn phạm tội: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Tức là người phạm tội sử dụng quyền hạn được giao như một phương tiện phạm tội để thực hiện phạm tội để thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, tội phạm này hoàn toàn không có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản.
  • Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi làm trái công vụ tức là không làm hoặc làm không đúng không đầy đủ nhiệm vụ được giao.
  • Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc, cụ thể là hành vi phạm tội phải gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Chủ thể của tội phạm:

Là người có chức vụ, quyền hạn. So với tội tham ô tài sản, phạm vi chức vụ, quyền hạn của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là rộng hơn (liên quan đến việc quản lý tài sản hoặc không liên quan). So với tội nhận hối lộ, phạm vi của tội này cũng tương tự. Tuy nhiên, khác với tội nhận hối lộ, dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ phải có hậu quả gây thiệt hại (đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân).

Mặt chủ quan của tội phạm đặc trưng bởi hai dấu hiệu:

Lỗi cố ý trực tiếp.

Động cơ phạm tội xuất phát từ động cơ phạm tội hoặc động cơ cá nhân

>>> Xem thêm: Mức phạt của Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn có tình tiết giảm nhẹ

Yếu tố cấu thành tội phạmYếu tố cấu thành tội phạm

Phân biệt tội lạm dụng chức vụ quyền hạn với tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

Về hành vi khách quan

Hành vi khách quan của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là dựa vào chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái công vụ. Tức là, người phạm tội sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình được giao như một “phương tiện” để phạm tội. Người phạm tội không cần sử dụng thêm bất cứ hành vi, thủ đoạn nào khác trong khi thi hành công vụ vì về bản chất họ đã được giao thực hiện các công việc đó nhưng hành vi của họ lại trái công vụ.

Trong khi đó, hành vi khách quan của Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi vượt quá phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao. Từ đó dẫn đến làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều đó có nghĩa là người có chức vụ, quyền hạn đã tự ý làm những việc thuộc thẩm quyền của cấp cao hơn hoặc của người khác. Hành vi tự ý làm những việc không thuộc thẩm quyền của mình được giao chính là làm trái công vụ.

Về mức độ sử dụng nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể trong khi thi hành công vụ

Đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, khi thực hiện hành vi phạm tội người này không vi phạm quy định về thẩm quyền. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết công việc, họ đã vi phạm các quy định, quy chế được giao cụ thể đối với công việc đó. Như vậy, để chứng minh hành vi phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, cần chứng minh được 02 vấn đề:

  • Người phạm tội vẫn thực hiện công việc trong phạm vi thẩm quyền, chức danh được giao (không có vi phạm về mặt phạm vi của thẩm quyền);
  • Trong quá trình giải quyết công việc được giao, người phạm tội vi phạm quy định về thẩm quyền thực hiện công việc đó

Trong khi đó, đối với Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ, bản chất của hành vi phạm tội thể hiện ở việc vi phạm về thẩm quyền thực hiện hoạt động công vụ. Vi phạm này có thể về mặt phạm vi hoặc về mặt nội dung của thẩm quyền hoặc cả về phạm vi và nội dung của thẩm quyền. Trong quá trình thực hiện công vụ, có thể người phạm tội thực hiện sai thẩm quyền (vi phạm về phạm vi thẩm quyền), dẫn tới thực hiện sai nội dung của thẩm quyền; hoặc có thể thực hiện sai thẩm quyền (vi phạm về phạm vi thẩm quyền) nhưng vẫn đúng về nội dung của thẩm quyền.

Luật sư bào chữa hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng chức vụ quyền hạn

Luật sư bào chữa tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ quyền hạnLuật sư bào chữa tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội lợi dụng chức vụ quyền hạn

  • Hỗ trợ khách hàng trong việc thu thập hồ sơ tài liệu chứng minh hoặc các tình tài liệu khác để được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  • Sao chụp tài liệu tại Toà án, thực hiện nghiên cứu hồ sơ, soạn thảo bản luận cứ bào chữa tại Tòa án.
  • Tham gia bào chữa cùng thân chủ tại các buổi lấy lời khai tại cơ quan điều tra, tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm, phúc thẩm tại Toà án.
  • Hỗ trợ khách hàng soạn đơn kháng cáo nếu thấy bản án của Toà án đưa ra không khách quan vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng.

Trên đây là bài viết tư vấn về phân biệt tội lạm dụng chức vụ quyền hạntội lợi dụng chức vụ quyền hạn. Nếu quý khách hàng còn có những thắc mắc, những câu hỏi xin liên hệ luật sư của chuyên tư vấn luật qua hotline 1900.63.63.87 để được tư vấn chuyên sâu.

4.8 (10 bình chọn)

Bài viết được thực hiện bởi Thạc Sĩ Luật Sư Phan Mạnh Thăng

Chức vụ: Giám Đốc Điều Hành

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Dân Sự, Hình Sự

Trình độ đào tạo: Thạc sĩ kinh tế Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 12 năm

Tổng số bài viết: 657 bài viết