NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƠN YÊU CẦU KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM ĐỐI VỚI BẢN ÁN DÂN SỰ CÓ HIỆU LỰC

04 /052018

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƠN YÊU CẦU KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM ĐỐI VỚI BẢN ÁN DÂN SỰ CÓ HIỆU LỰC

Thủ tục giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì khi có các điều kiện sau thì việc giám đốc thẩm mới được tiến hành: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; đặc biệt đây không phải là một cấp xét xử nên không phải mọi kháng nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm khi phát hiện có vi phạm pháp luật về giải quyết vụ án mà chỉ khi nó là vi phạm nghiêm trọng dẫn đến việc ra bản án, quyết định trái pháp luật hoặc thiếu tính khách quan; Có kháng nghị của người có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do BLTTDS quy định. Đây là một thủ tục đặc biệt, không phải là một cấp xét xử, do đó trình tự, thủ tục tố tụng giai đoạn này khác với trình tự, thủ tục tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, thủ tục này chỉ được tiến hành khi có đơn kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đơn yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm cần phù hợp với quy định tại Điều 328 BLTTDS.

1. Thông tin của người đề nghị.

Khi làm đơn cần cung cấp thông tin người yêu cầu để người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm xác định được đính danh đối tượng yêu cầu, khi tiến hành giải quyết có thể tống đạt văn bản đến người đó một cách chính xác. Các thông tin cơ bản như tên, địa chỉ của người yêu cầu, địa chỉ có thể ghi địa chỉ thường trú và địa chỉ liên hệ.

2. Thông tin về bản án, quyết định bị yêu cầu kháng nghị

Người yêu cầu phải nêu rõ bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, như số, ngày, tháng, năm bản án, quyết định; nội dung chính mà Tòa đã tuyên.

3. Lý do đề nghị

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chỉ thì chỉ được tiến hành giám đốc thẩm khi có một trong các các lý do sau:

- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; Điều này được hiểu là trong phần xét thấy, trong phần quyết định của bản án hoặc quyết định của bản án hoặc quyết định có những vấn đề không phù hợp, không đồng nhất với những tình tiết khách quan đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà hoặc những tình tiết khách quan đã được làm rõ tại phiên toà qua xét hỏi, tranh luận. Quyết định của Tòa án trong bản án, quyết định đã không phản ánh đầy đủ, toàn diện về sự thật của vụ việc.

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trong quá trình áp dụng thủ tục tố tụng, Tòa án đã áp dụng không đúng các quy định,vi phạm các nguyên tắc của của BLTTDS trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Mức độ vi phạm phải là nghiêm trọng, dẫn đến bản án, quyết định được Tòa án ra không đúng pháp luật, thiếu tính khách quan, công bằng.

- Tòa án đã có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật vào nội dung vào việc giải quyết vụ việc dân sự, dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng với bản chất sự việc đó, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Sai lầm này có thể đến từ việc áp dụng điều luật, văn bản pháp luật không đúng, đã hết hiệu lực pháp luật hoặc xác định sai loại quan hệ pháp luật phải áp dụng.

Người yêu cầu cần nêu rõ lý do để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, nếu đáp ứng điều kiện thì họ mới tiến hành kháng nghị.

4. Yêu cầu của người kháng nghị

Về yêu cầu của người kháng nghị cần nêu rõ muốn sửa án hay hủy án đưa về cấp sơ thẩm điều tra xem xét xét xử lại theo thủ tục chung.

Cuối cùng, tại cuối đơn nếu người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu; trường hợp tổ chức đề nghị là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.