NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƠN YÊU CẦU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

20 /042018

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƠN YÊU CẦU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

Biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là những biện pháp mang tính tạm thời được áp dụng  khi đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và có đơn yêu cầu hoặc do Tòa án chủ động áp dụng trong trường hợp khẩn cấp mà pháp luật cho phép để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án. Đồng thời việc áp dụng BPKCTT liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc nên pháp luật tố tụng dân sự đã quy định từ Điều 111 đến Điều 142 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) rất chặt chẽ các trình tự, thủ tục, điều kiện để Tòa án xem xét và quyết định áp dụng. Điển hình là quy định về đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT tại Điều 133 BLTTDS là yếu tố bắt buộc và là căn cứ để Tòa án xem xét áp dụng BPKCTT.

       Theo đó đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT có các nội dung chính theo quy định tại Điều 133 BLTTDS có thể chia làm bốn phần như sau:

1.  Thông tin người yêu cầu và người bị yêu cầu:

       Cần cung cấp các thông tin sau để Tòa án có thể xác định được đính danh đối tượng yêu cầu về người bị yêu cầu áp dụng, gồm: Tên, địa chỉ; số chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân (ngày cấp, nơi cấp); số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Ngoài ra để có thể tống đạt các văn bản tố tụng và thực hiện BPKCTT cần ghi rõ địa chỉ thường trú và địa chỉ liên hệ.

2. Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

       Để Tòa án có thể xem xét diễn biến và tính chất vụ việc diễn ra như thế nào, yêu cầu của đương sự có thực sự cấp bách, hay cần để bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm cho việc thi hành án của vụ việc đang được giải quyết, người làm đơn cần nêu cụ thể diễn biến vụ việc để Tòa án có thể nắm bắt được nội dung vụ việc để xem xét tính cần thiết để áp dụng BPKCTT. 

3.  Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

       Sau khi trình bày sự việc thì người yêu cầu ấp dụng BPKCTT cần nêu lý do của đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT đó là: để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết và cần phải được giải quyết ngay, nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm... của đương sự; để bảo vệ chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; để bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, tức là bảo toàn mối quan hệ, đối tượng hiện có liên quan đến vụ án đang được Tòa án giải quyết; để bảo đảm việc thi hành án tức là làm cho chắc chắn các điều kiện để khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành thì có đầy đủ điều kiện để thi hành án.

4. Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng, lý do yêu cầu biện pháp đó và các yêu cầu cụ thể.

       Toà án chỉ xem xét để quyết định áp dụng hay không áp dụng BPKCTT cụ thể được ghi trong đơn yêu cầu. Nếu xét thấy yêu cầu áp dụng BPKCTT đó là có căn cứ thì ra quyết định áp dụng BPKCTT đó; Các biện pháp mà đương sự có thể yêu cầu áp dụng được quy định tai Điều 114 BLTTDS gồm:

a. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

       Theo quy định tại Điều 115 BLTTDS thì người chưa đủ 18 tuổi, người người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi hoặc người đã thành niên nhưng do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự được chuyển giao cho người khác không phải cha mẹ hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Vì các lý do như người chưa thành niên chưa có người giám hộ, vụ việc ly hôn, tước quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà cha mẹ không được hoặc không thể nuôi dưỡng được hoặc họ chưa có người giám hộ.

b. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng

       Biện pháp này được quy định tại Điều 116 BLTTDS, biện pháp này là việc người bị yêu cầu cấp dưỡng phải ứng trước một khoản tiền nhất định để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm đảm bảo giải quyết được tình huống khó khăn của người được cấp dưỡng. Vì nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng.

c. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm

       Theo quy định tại Điều 117 BLTTDS thì buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm là việc người gây ra thiệt hại là bị đơn trong vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải ứng trước một khoản tiền nhất định để bồi thường cho người bị thiệt hại. Vì lý do đáp ứng nhu cầu cấp bách của người bị thiệt hại, ví dụ A gây tai nạn tông B, B không có tiền để chữa trị thì yêu cầu A trả trước tiền thuốc men, chữa bệnh ở bệnh viên.

d. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

       Căn cứ Điều 118 BLTTDS thì biện pháp này được áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật, trong các vụ án giải quyết tranh chấp về quan hệ lao động. Vì người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả các khoản trên và người lao động có yêu cầu đang trong tình trạng khó khăn về kinh tế nếu không giải quyết ngay thì sẽ không duy trì được cuộc sống của họ.

e. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động

       Với mong muốn được bố trí lại công việc trước khi có quyết định cuối cùng của Tòa án, theo quy định tại Điều 119 BLTTDS thì đây là biện pháp được áp dụng khi giải quyết vụ việc liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc sa thải người lao động. Trong trường hợp việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động không thuộc các trường hợp pháp luật cho phép tại Điều 38 Bộ luật lao động 2012 hay không được xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động theo tại Điều 126 Bộ luật lao động. Vì nếu không áp dụng BPKCTT tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động ngay thì họ sẽ khó duy trì được cuộc sống vì bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc bị sa thải.

f. Kê biên tài sản đang tranh chấp

       Biện pháp này được quy định tại Điều 120 BLTTDS chỉ áp dụng đối với tài sản đang bị tranh chấp còn đối với các tài sản khác thì không được áp dụng.  ì nếu trong quá trình giải quyết vụ án người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản có thể gây ảnh hưởng bất lợi cho việc giải quyết vụ án và thi hành án về sau.

g. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

       Khi có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản, hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi làm thay đổi hiện trạng của tài sản đang tranh chấp thì người làm đơn có thể yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng biện pháp quy định tại Điều 121, 122 BLTTDS về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp. Để giữ nguyên hiện trạng tài sản đang tranh chấp hoặc việc tác động đến tài sản đó có thể gây thiệt hại cho người khác, hoặc khó giải quyết khi xét xử và thi hành án.

h. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác

       Theo quy định tại Điều 123 BLTTDS biện pháp này áp dụng trong tranh chấp có liên quan đến hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa dễ hư hỏng, khó bảo quản lâu dài. Vì để tránh các tổn thất về tài sản cho đương sự đối với hoa màu, sản phẩm hoặc hàng hóa dễ hư hỏng.

i. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ

       Theo quy định tại Điều 124, 125 BLTTDS thì nếu người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước và cần phong tỏa tài khoản đó để tránh trường hợp người đó trốm tránh nghĩa vụ, tẩu tán tài sản, việc phong tỏa đó cần thiết cho việc giải quyết vụ án và đảm bảo thi hành án.

j. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ

       Biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ quy định tại Điều 126 BLTTDS là việc không cho phép chuyển dịch tài sản của người có nghĩa vụ. Biện pháp này được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Mọi giao dịch đối với tài sản đã phong tỏa đều bị vô hiệu, chủ sở hữu tài sản có nghĩa vụ ngừng mọi giao dịch sau khi nhận được quyết định của Tòa án. Điều này giúp ngăn chặn việc chi tiền, tẩu tán tài sản ra khỏi tài khoản hoặc trốn tránh trách nhiệm khi thi hành án về sau.

k. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định

       Nếu trong quá trình giải quyết vụ án đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết. Theo quy định tại Điều 127 BLTTDS thì cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định, không cho phép đương sự thực hiện một số hành vi cụ thể hoặc bắt đương sự phải thực hiện một số hành vi cụ thể tránh gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ việc, gây khó khăn trong giải quyết vụ án.

l. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ

       Theo quy định tại Điều 128 BLTTDS thì Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT cấm xuất cảnh khi có đơn yêu cầu và có căn cứ cho thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ của họ đối với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đảm bảo nghĩa vụ của các bị đơn trong suốt quá trình tham gia tố tụng bao gồm nhưng không giới hạn ở phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án như cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ, đối chất, hòa giải...; Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, thi hành bản án, quyết định của Tòa Án. Đảm bảo quá trình giải quyết vụ án được thuận lợi, đúng quy định pháp luật

m. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình

       Biện pháp được quy định tại Điều 129 BLTTDS này được quy định nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình. Theo quy định tại Điều 21 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 thì Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng.Vì hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình.

n. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu

       Theo quy định tại Điều 130 BLTTDS thì việc đóng thầu, phê duyệt danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng được tạm dừng nếu quá trình giải quyết vụ án cho thấy việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án. Vì nếu không tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu

o. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án

       Theo quy định tại Điều 131 thì biện pháp này  được áp dụng trong một số trường hợp, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu bay tại cảng hàng không, sân bay để bảo đảm lợi ích của chủ nợ, chủ sở hữu, người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại hoặc người khác có quyền, lợi ích đối với tàu bay hoặc để thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam. Vì bảo đảm cho việc giải quyết khiếu nại hàng hải, thi hành án dân sự, thực hiện tương trợ tư pháp.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.