Đại dịch Covid-19 đã mang lại những thách thức chưa từng có đối với nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Tác động của dịch Covid-19 đối với các hợp đồng thương mại, từ việc thực hiện hợp đồng đến việc áp dụng quy định pháp lý nhằm miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm nghĩa vụ trong bối cảnh dịch bệnh là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp. Do đó, bài viết của Chuyên tư vấn Luật dưới đây sẽ cung cấp cho quý độc giả góc nhìn pháp lý trực quan nhất về tác động của dịch Covid-19 đối với các hợp đồng thương mại tại Việt Nam.

Tác động của dịch Covid-19 đến nền kinh tế toàn cầu

Bản chất pháp lý của dịch Covid-19

Căn cứ Khoản 13 Điều 2 của Luật Phòng, chống truyền nhiễm 2007, “dịch” là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định và việc công bố dịch bệnh sẽ được người có thẩm quyền thực hiện tùy vào mức độ nghiêm trọng của từng loại dịch bệnh và khả năng lây lan của dịch bệnh.

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 01/02/2020; Quyết định số 07/2020/QĐ- TTg ngày 26/2/2020 của Thủ tướng Chính phủ thì bệnh Covid-19 được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A. Theo đó, nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Đồng thời, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 có quy định những hành vi nghiêm cấm liên quan đến bệnh truyền nhiễm. Do đó, những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự; gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong xã hội sẽ phải chịu các chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm chế tài hành chính và chế tài hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

Như vậy, Covid-19 được xem là “dịch bệnh” theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, dù sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 là hiện tượng mới nhưng pháp luật hợp đồng, trải qua thời gian cùng với các hiện tượng đã từng diễn ra trong lịch sử nhân loại, đã thiết lập được những cơ chế pháp lý để ứng phó với tác động của những sự kiện bất ngờ đó đối với quan hệ hợp đồng giữa các bên, đặc biệt là trong quan hệ hợp đồng thương mại.

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh, thương mại trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng làm nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý. Khi xét đến yếu tố ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến việc thực hiện hợp đồng, chúng ta không xem xét đến ảnh hưởng của dịch bệnh đến chủ thể thực hiện hợp đồng. Lúc này chúng ta xem xét sự tác động từ các hành vi, quyết định, văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên.

Dịch Covid-19 có được xem là yếu tố bất khả kháng trong hợp đồng thương mại?

Quy định về bất khả kháng trong hợp đồng thương mại

Sự kiện bất khả kháng được quy định Khoản 1 Điều 156 Bộ Luật Dân sự năm 2015, theo đó sự kiện bất khả kháng gồm có ba dấu hiệu sau đây:

  • Sự kiện xảy ra một cách khách quan.
  • Không thể lường trước được.
  • Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Sự kiện khách quan

Sự kiện bất khả kháng phải xảy ra một cách khách quan, tức là diễn ra không dựa trên ý chí của con người, không do con người tác động vào hay quyết định. Sự kiện bất khả kháng phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc bên vi phạm nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ của mình. Sự kiện bất khả kháng có thể là sóng thần, động đất, thiên tai, chiến tranh, đình công, bạo loạn hay các thảm họa khác.

Không thể lường trước được

Sự kiện bất khả kháng diễn ra phải đảm bảo yếu tố không thể lường trước được. Các bên trong hợp đồng, hoặc ít nhất là bên vi phạm không thể nhìn thấy trước hay dự kiến trước; không biết, không thể biết hoặc không buộc phải biết sự kiện bất khả kháng sẽ xảy ra và do đó, không thể kiểm soát hay ngăn chặn việc xảy ra sự kiện bất khả kháng.

Không thể khắc phục dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết

Ngoài tiêu chí đảm bảo tính khách quan và không thể đoán trước, Bộ luật Dân sự yêu cầu bên gặp phải sự kiện không mong muốn cần nỗ lực hết sức để khắc phục sự kiện bất khả kháng hoặc ít nhất là tác động tới hậu quả do sự kiện bất khả kháng gây ra nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại, tổn thất mà sự kiện bất khả kháng đem lại. Điều này phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực và hướng đến việc đảm bảo thực hiện hợp đồng của các bên, tránh trường hợp bên gặp phải biến cố không mong muốn cố ý để thiệt hại tiếp diễn để không thực hiện hợp đồng và được hưởng các hệ quả pháp lý dành cho sự kiện bất khả kháng.

Dịch Covid-19 có thỏa mãn các điều kiện bất khả kháng?

Để đánh giá đại dịch Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng hay không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và/hoặc quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng có liên quan, bao gồm pháp luật quốc gia và/hoặc pháp luật quốc tế.

Trường hợp có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

Trong một số hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ, nếu các bên đã đưa hiện tượng “dịch bệnh” vào danh sách các sự kiện bất khả kháng thì dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên không thống nhất về cách hiểu và cách áp dụng sự kiện bất khả kháng đã thỏa thuận thì bên vi phạm cần phải có những căn cứ, lập luận và chứng cứ về mối liên hệ và ảnh hưởng trực tiếp của “dịch bệnh” hoặc “tác động của Covid-19” đến việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên vi phạm.

Trên thực tế, có rất ít trường hợp trong hợp đồng thương mại có quy định các dịch bệnh như Covid-19 trong danh sách sự kiện bất khả kháng này.

Trường hợp không có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, các quy định pháp luật có liên quan không quy định về các trường hợp cụ thể liên quan tới Covid-19, việc xác định sự kiện bất khả kháng để được miễn trách nhiệm, thông thường sẽ tuân theo các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 với ba dấu hiệu trên. Do đó, Covid-19 không luôn luôn là sự kiện bất khả kháng, tùy từng trường hợp mà đại dịch này mới được coi là sự kiện bất khả kháng trong các hợp đồng.

Khi phân tích dựa trên các tiêu chí đánh giá sự kiện bất khả kháng thì đại dịch Covid-19 đảm bảo được tính khách quan, diễn ra không dựa trên ý chí của con người tức là không ai tác động hay mong muốn nó xảy ra.

Tuy nhiên, khi xem xét tính ảnh hưởng của Covid-19 thì chúng ta cần dựa trên sự tác động của các văn bản pháp luật trong giai đoạn dịch bệnh. Do đó, tiêu chí về sự lường trước của các bên cần xác định xem bên không thể thực hiện nghĩa vụ do dịch bệnh có bị tác động bởi các văn bản pháp luật nhằm phòng, chống dịch bệnh hay không. Trong giai đoạn bùng dịch, do tác động của nó quá lớn, truyền thông về dịch bệnh cũng rất phổ biến nên các bên giao kết hợp đồng buộc phải biết nó sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng và đều có những chuẩn bị nhất định để phòng ngừa và giảm thiểu các tác động của đại dịch. Nên khi đó, Covid-19 không thể coi là trường hợp bất khả kháng để áp dụng quy định pháp luật nhằm miễn trách nhiệm cho tất cả các trường hợp vi phạm nghĩa vụ thực hiện hoặc không thực hiện thỏa thuận/cam kết giữa các bên trong hợp đồng thương mại.

Tuy nhiên, thời điểm yêu cầu áp dụng quy định về sự kiện bất khả kháng là thời gian đại dịch Covid-19 mới bùng phát, trong đó các diễn biến của dịch bệnh và ứng xử của các bên trong hợp đồng cũng như các bên có liên quan khác, kể cả cơ quan công quyền, đều không có tiền lệ, không thể dự đoán trước nên để tiến hành các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh, Chính phủ có thể đưa ra các biện pháp mạnh hơn các biện pháp đang áp dụng. Khi đó, bên có nghĩa vụ không thể suy tính tới và không thể hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng thì có thể được cân nhắc áp dụng sự kiện bất khả kháng.

Ngoài ra, bên có nghĩa vụ cần thực hiện các biện pháp khắc phục khi nghĩa vụ của mình không thể tiến hành do dịch bệnh. Chẳng hạn như họ có thể áp dụng các biện pháp bảo quản hàng hóa thích hợp để hạn chế hư hỏng, thiệt hại tới mức tối thiểu.

Trong mọi trường hợp, dù các bên có thỏa thuận hay không có thỏa thuận, để được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm nhất thiết phải thực hiện đầy đủ các quy định tại Khoản 1 Điều 295 Luật Thương mại 2005, cụ thể là thông báo ngay cho bên kia bằng văn bản về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra và chứng minh về sự kiện bất khả kháng.

Khi đại dịch Covid-19 đáp ứng yếu tố khách quan, không đáp ứng được hai đặc tính còn lại của sự kiện bất khả kháng thì được xem là trở ngại khách quan theo quy định tại Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Dịch Covid-19 có thỏa mãn các điều kiện bất khả kháng?

Chính sách phòng chống dịch Covid-19 có thỏa mãn điều kiện miễn trừ trách nhiệm vi phạm?

Điều 294 Luật Thương mại 2005 quy định các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm, trong đó có trường hợp hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Về bản chất, hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quy định của cơ quan quản lý nhà nước là hành vi vi phạm do sự kiện bất khả kháng về sự biến pháp lý. Quyết định này phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi phạm, tức là phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nào đó dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng.

Khi xem xét một chính sách phòng chống dịch Covid-19 có thỏa mãn điều kiện miễn trừ trách nhiệm vi phạm hay không cần xem xét đến thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm xảy ra hành vi vi phạm do thực hiện các chính sách đó của cơ quan nhà nước.

Nếu hợp đồng được xác lập trong khoảng thời gian công bố dịch bệnh, các bên đã biết hoặc phải biết về quyết định và các biện pháp pháp lý có thể được áp dụng để hạn chế sự lây lan và phát triển dịch dịch bệnh thì việc ảnh hưởng của dịch bệnh đến việc thực hiện hợp đồng sẽ không được áp dụng miễn trừ trách nhiệm. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc Cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp pháp lý để hạn chế sự lây lan và phát triển dịch bệnh mạnh hơn mà các bên không lường trước được khi xác lập hợp đồng thì được miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng.

Vi phạm hợp đồng do dịch Covid-19 và các chế tài thương mại áp dụng

Vi phạm hợp đồng do dịch Covid-19

Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005, vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là những nghĩa vụ đã được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng hoặc được pháp luật điều chỉnh hợp đồng đó quy định.

Dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề; gây ra những tác động, phần lớn là tiêu cực, tới việc thực hiện các hợp đồng thương mại, bao gồm hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung cấp dịch vụ. Các nghĩa vụ mà các bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thường xảy ra trong bối cảnh dịch bệnh có thể là nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm, thời gian, chất lượng và số lượng hàng hóa của bên bán hoặc nghĩa vụ nhận hàng, thanh toán đúng hạn của bên mua,…

Như vậy, các chủ thể phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thương mại, theo đó bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ hành vi vi phạm đó gây ra. Theo quy định của pháp luật, các chế tài thương mại được áp dụng khi mà một bên trong quan hệ hợp đồng thương mại thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, cũng có trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định.

Các chế tài áp dụng vi phạm hợp đồng thương mại trong dịch Covid-19

Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 quy định cụ thể các chế tài áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng.

Tại Điều 292 Luật Thương mại năm 2005 quy định 07 chế tài áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng bao gồm:

  • Buộc thực hiện đúng hợp đồng: Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đủ hàng, đúng số lượng, chất lượng hoàng hóa, cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng; bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm loại trừ khuyết tật của hàng hoá, giao đủ hàng hoặc giao hàng khác thay thế.
  • Phạt vi phạm: Bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt theo quy định trong hợp đồng. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
  • Buộc bồi thường thiệt hại: Bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra nhưng chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra, và có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
  • Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: Bên bị vi phạm tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, ví dụ như tạm ngừng thanh toán tiền, tạm ngừng việc giao hàng, nhận hàng, tạm ngừng quảng cáo,… đến khi bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc khắc phục hậu quả do vi phạm hợp đồng.
  • Đình chỉ thực hiện hợp đồng: Là bên bị vi phạm chấm dứt thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong kinh doanh, thương mại với bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng.
  • Huỷ bỏ hợp đồng: Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp. Các bên giải quyết hậu quả của hợp đồng bị huỷ bỏ (nếu có) như nghĩa vụ hoàn trả, quyền đòi lại lợi ích,…
  • Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế

Các chế tài áp dụng vi phạm hợp đồng thương mại trong dịch Covid-19

Kiến nghị và giải pháp để giải quyết tranh chấp hợp đồng

Tranh chấp hợp đồng có thể xảy ra do một số nguyên nhân khách quan như: các rủi ro khách quan như các sự kiện bất khả kháng do dịch bệnh,… dẫn đến vi phạm hợp đồng; chính sách pháp luật thay đổi khiến các doanh nghiệp không thể cập nhật kịp thời và áp dụng đúng,…

Về nguyên tắc khi tranh chấp trong kinh doanh, thương mại xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cách giải quyết. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau và có yêu cầu thì tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể được giải quyết tại Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nghĩa vụ thông báo và đề nghị điều chỉnh hợp đồng

Khi xảy ra hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và thuộc trường hợp miễn trách nhiệm, bên vi phạm hợp đồng cần phải thông báo ngay (bằng văn bản) cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và hậu quả có thể xảy ra. Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, với nguyên tắc thiện chí, các bên có thể tiến hành thương lượng lại để điều chỉnh lại hợp đồng. Tuy nhiên, theo Khoản 4 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần lưu ý khi tiến hành thương lượng điều chỉnh lại hợp đồng thì hợp đồng vẫn có hiệu lực thực hiện nên phải thi hành để không bị coi là không thực hiện đúng hợp đồng (vi phạm hợp đồng).

Khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền chấm dứt hợp đồng, hạn chế thiệt hại

Nói chung nếu việc tranh chấp xuất phát từ hợp đồng kinh doanh – thương mại mà các bên không tự giải quyết được thì nên yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền lợi cho mình trong thời hạn luật định. Việc khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chấm dứt hợp đồng thương mại là biện pháp cần thiết và hữu hiệu để hạn chế thiệt hại khi không còn biện pháp nào có thể làm thay đổi được tình hình bởi Tòa án là cơ quan có thẩm quyền ra các phán quyết bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của bên vi phạm, các phán quyết này có hiệu lực pháp lý cao và có tính bắt buộc.

Trên đây là các ý kiến đề xuất, kiến nghị về Góc nhìn pháp lý về tác động của dịch Covid-19 đối với các hợp đồng thương mại tại Việt Nam của Chuyên tư vấn Luật. Nếu quý độc giả có bất kỳ ý kiến đóng góp nào cho bài viết, hãy liên hệ với chúng tôi thông qua hotline 1900.63.63.87 để cùng nhau trao đổi, đánh giá và phân tích những vấn đề bất cập trong quy định pháp luật và cùng nhau xây dựng hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn.

Chuyên Tư Vấn Luật xin chân thành cảm ơn và tri ân quý độc giả đã quan tâm bài viết và website chuyentuvanluat.com của chúng tôi.

Scores: 4.5 (13 votes)

  Hotline: 1900.63.63.87