Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa thay mặt Ban Chấp hành Trung ương ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Nội dung Quy định số 37QĐ/TW cơ bản kế thừa những nội dung của Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1.11. 2011 còn phù hợp, có bổ sung một số điều mới, điều chỉnh một số điểm cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong tình hình mới. Bài viết sau đây, Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích những điểm mới trong Quy định 37QĐ/TW để hiểu rõ hơn về những điều đảng viên không được làm so với Quy định cũ.

điều đảng viên không được làm

Những điểm mới trong quy định về những điều đảng viên không được làm

Điểm mới trong Quy định 37-QĐ/TW năm 2021 so với Quy định 47-QĐ/TW năm 2011 về những điều đảng viên không được làm

Điểm chung giữa Quy định 37-QĐ/TW và Quy định 47-QĐ/TW là giữ nguyên 19 Điều đảng viên không được làm và nhất quán trước sau về quan điểm đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ, vai trò tiên phong gương mẫu và phẩm chất đạo đức của người đảng viên. Tuy nhiên, Quy định 37-QĐ/TW có những điểm mới đáng quan tâm trong việc kế thừa cơ bản những nội dung còn phù hợp và bổ sung những nội dung mới cho phù hợp trong giai đoạn hiện nay như sau:

  • Điều 1 Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa Điều 1 Quy định 47-QĐ/TW và bổ sung nội dung sau:

Đảng viên không chỉ không được nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép mà còn không được viết trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng;

  • Điều 2 Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa từ Điều 7 Quy định 47-QĐ/TW nhưng được bổ sung nội dung quan trọng đối với đảng viên đó là:

Đảng viên không được: “Không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”. Như vậy, đảng viên phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng.

  • So với Quy định 47-QĐ/TW, Quy định 37-QĐ/TW đã bổ sung nội dung hoàn toàn mới quy định tại Điều 3 như sau:

Đảng ta quy định rõ đảng viên không được: “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cũng ở Điều 3, Đảng ta chỉ rõ đảng viên không được: “Không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Điều 3 Quy định 37-QĐ/TW là nội dung hoàn toàn mới được bổ sung trên cơ sở triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đây là sự bổ sung rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu để phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lối của Đảng. Nên việc bổ sung Điều 3 là hoàn toàn chính xác trong bối cảnh hiện nay và có giá trị lâu dài trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ, phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

  • Điều 6 Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa từ Điều 5 Quy định 47-QĐ/TW đồng thời bổ sung nội dung mới đó là:

Đảng viên không được “Đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý; kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo”. Nội dung này được cụ thể hóa từ Luật khiếu nại, tố cáo.

  • Điều 9 Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa từ Điều 13 Quy định 47-QĐ/TW đồng thời bổ sung những nội dung mới sau:

Đảng viên không được “Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”.

Bổ sung này nhằm mục đích cụ thể hóa Quy định của Bộ Chính trị về một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ Đảng. Thực trạng luôn có những người sử dụng văn bằng không đúng, chứng chỉ không đúng, chứng nhận giả, không hợp pháp; có cá nhân chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, do đó việc bổ sung vào Điều 9 nội dung này rất phù hợp với bối cảnh hiện nay và cũng để ngăn ngừa những hiện tượng này mặc dù chưa nhiều, để giữ vững được phẩm chất của người đảng viên cộng sản.

  • Điều 11 Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa từ Điều 8, Quy định 47-QĐ/TW và được điều chỉnh, bổ sung một số nội dung sau:

Cấm đảng viên “Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.”

Nội dung bổ sung này nhằm mục đích cụ thể hóa nội dung Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

  • Điều 12 Quy định 37-QĐ/TW được kế thừa từ Điều 10 Quy định 47-QĐ/TW nhưng được bổ sung nhiều nội dung sau:

Đảng viên không được: “Có hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay, can thiệp, tác động dưới mọi hình thức đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được tiếp nhận, tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, đề cử, ứng cử, khen thưởng, phong tặng danh hiệu, đi học, đi nước ngoài, thực hiện chế độ, chính sách cán bộ trái quy định”.

Nội dung bổ sung này nhằm cụ thể hóa Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

  • Bổ sung Điều 13 Quy định 37-QĐ/TW so với Quy định 47-QĐ/TW

Tại điều này, Đảng ta quy định, đảng viên không được: “Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

Nội dung điều này nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Quy định 37-QĐ/TW thể hiện quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng chống tham nhũng

Thông qua nội dung Quy định 37-QĐ/TW, Đảng đã thể hiện quan điểm về đấu tranh phòng chống tham nhũng cụ thể và rõ nét hơn so với Quy định Quy định 47-QĐ/TW trong việc bổ sung quy định tại Điều 11, 13 Quy định 37-QĐ/TW. Cụ thể như sau:

Qua thực tế công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã bổ sung nội dung cấm đảng viên “can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác“.

Quy định này thúc đẩy công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng bởi vì trong những năm qua, đã xuất hiện những cá nhân có hành động tác động đến tổ chức, cá nhân không đúng để giảm các hình phạt. Với tinh thần của các đại hội gần đây, nhất là Đại hội XIII là kiên quyết đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, nên việc Đảng quy định đảng viên không được làm những việc này là vừa là điểm mới vừa thể hiện tinh thần đấu tranh phòng chống tham những trong bối cảnh hiện nay.

Bên cạnh đó, Điều 11 Quy định 37-QĐ/TW cũng nhấn mạnh đảng viên không được “lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Như vậy, Quy định 37-QĐ/TW đã thể hiện rõ nét và đầy đủ hơn những quan điểm của Đảng trong công tác đấu tranh chống tham nhũng để giải quyết thực trạng tham nhũng của đất nước ta hiện nay.

đấu tranh phòng chống tham nhũng

Quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng chống tham nhũng

Thủ tục tố cáo, phản ánh khi đảng viên vi phạm Quy định 37-QĐ/TW

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2008, Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”.

Như vậy, người dân có thể tố cáo đảng viên nếu xác định được hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc vi phạm về quản lý nhà nước.

Theo Điều 22 Luật Tố cáo 2018 quy định rằng việc tố cáo phải được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Đối với tiếp nhận tố cáo, khoản 1 Điều 23 Luật Tố cáo 2018 quy định:

  • Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức liên hệ với người tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo; người bị tố cáo và các thông tin khác có liên quan.
  • Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Theo khoản 1 Điều 24 Luật Tố cáo 2018 quy định rằng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ tiến hành vào sổ, phân loại, xử lý ban đầu thông tin tố cáo, kiểm tra, xác minh thông tin về người tố cáo và điều kiện thụ lý tố cáo;

Trường hợp thông tin có nội dung tố cáo quy định có nội dung rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền (khoản 2 Điều 25 Luật Tố cáo 2018).

Theo Điều 29 Luật Tố cáo 2018, nếu đủ các điều quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo ra quyết định thụ lý tố cáo.

Kiến nghị, giải pháp đối với trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm

Quy định 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 về xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm và Quy định 07-QĐi/TW ngày 28/08/2018 về xử lý kỷ luật Tổ chức đảng vi phạm là hai quy định pháp luật hiện hành về xử lý kỷ luật Đảng viên, Tổ chức đảng vi phạm.

Hai quy định này được ban hành một phần dựa trên căn cứ của Quy định 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011 về những điều đảng viên không được làm. Tuy nhiên, hiện tại Quy định 47-QĐ/TW đã bị thay thế bởi Quy định Quy định 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 với nhiều nội dung được bổ dung như đã nêu tại mục trên. Do đó, việc sửa đổi bổ sung một số quy định xử lý kỷ luật đảng viên, Tổ chức đảng vi phạm sẽ là vô cùng cần thiết. Cụ thể, bổ sung các hình thức kỷ luật đối với các hành vi như sau:

  • Đảng viên không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh;
  • Đảng viên đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại;
  • Đảng viên nhập quốc tịch, mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định.
  • Đảng viên lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Ngoài ra, cần phải sửa đổi, bổ sung một số Điều luật trong Quy định 102-QĐ/TW như sau:

Thứ nhất, về vi phạm trong công tác tổ chức, cán bộ tại Điểm b, Khoản 1 Điều 11, đề xuất bổ sung nội dung “chuyển đổi vị trí công tác“. Lý do là trong thực tiễn có nơi thực hiện chuyển đổi vị trí công tác người có vi phạm, chưa hết thời gian bị kỷ luật theo Nghị định số 59/2019/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phòng, chống tham nhũng.

Thứ hai, vi phạm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Điểm a, Khoản 1 Điều 15, đề xuất bổ sung từ “khiếu nại” trước từ “tố cáo”. Lý do là trong thực tiễn có trường hợp viết đơn khiếu nại kỷ luật đảng mạo tên, nhưng chưa có quy định xử lý.

Thứ ba, vi phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ tại khoản 2 Điều 30: đề xuất bổ sung thêm nội dung “Tham mưu đề xuất, quyết định chi sai quy định, định mức, để ngoài sổ sách hoặc làm thất thoát kinh phí, ngân sách Đảng, Nhà nước“. Lý do là trong thực tiễn có trường hợp cá nhân được giao quản lý, sử dụng ngân sách Đảng, Nhà nước mà chi sai quy định gây lãng phí, thất thoát.

xử lý kỷ luật đảng viên

Kiến nghị, giải pháp đối với trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm

Trên đây là các ý kiến đề xuất, kiến nghị về Trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm của Chuyên tư vấn luật. Nếu quý độc giả có bất kỳ ý kiến đóng góp nào cho bài viết, hãy liên hệ với chúng tôi thông qua hotline 1900 63 63 87 để cùng nhau trao đổi, đánh giá và phân tích những vấn đề bất cập trong quy định pháp luật và cùng nhau xây dựng hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn.

Chuyên Tư Vấn Luật xin chân thành cảm ơn và tri ân quý độc giả đã quan tâm bài viết và website chuyentuvanluat.com của chúng tôi.

 

Scores: 4.5 (17 votes)

  Hotline: 1900.63.63.87