Luật Lao Động

Tranh chấp lao động nào được kiện thẳng ra toà mà không cần hoà giải?

Tranh chấp lao động nào được kiện thẳng ra toà mà không cần hoà giải? Thông thường để giải quyết các tranh chấp lao động trước hết cần tiến hành hòa giải qua hòa giải viên sau đó nếu hòa giải không thành thì các bên mới có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài hoặc Tòa án giải quyết. Tuy nhiên Bộ Luật Lao động 2019 cũng quy định những trường hợp mà ở đó người lao động có quyền kiện thẳng ra Tòa để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình. Bài viết dưới đây sẽ thông tin cụ thể đến quý độc giả về nội dung này.

Tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động được quyền kiện thẳng ra Tòa

Căn cứ Khoản 1 Điều 188 Bộ Luật Lao động 2019, các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên.

  • Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
  • Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
  • Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Như vậy, về nguyên tắc thì thủ tục hòa giải trong tranh chấp lao động là thủ tục tiền tố tụng buộc phải thực hiện trước khi khởi kiện tranh chấp lao động ra Tòa án. Trừ trường hợp tranh chấp lao động được quy định không phải hòa giải tại Điều 188 Bộ luật Lao động 2019. 

các tranh chấp lao đông 

Thẩm quyền tòa án giải quyết tranh chấp lao động 

Việc xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ tuân theo các nguyên tắc của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) cụ thể việc xác cần thực hiện qua các bước sau

Bước thứ nhất, xác định thẩm quyền Tòa án theo cấp được quy định tại Điều 35 và Điều 37 BLTTDS 2015, cụ thể

  • Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động ở cấp sơ thẩm,
  • Tòa án cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Bước thứ hai, Căn cứ Điều 39 BLTTDS 2015 việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ như sau:

  • Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức
  • Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động.

Trường hợp xác định theo sự lựa chọn của nguyên đơn được quy định tại Điều 40 BLTTDS 2015 như sau:

  • Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết
  • Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết
  • Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.
  • Tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
  • Trường hợp bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

Kết hợp kết quả của hai bước trên ta có thể xác định được Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động và tiến hành khởi kiện tranh chấp lao động.

Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động

>> Xem thêm: Trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động tại Tòa án

Khởi kiện giải quyết tranh chấp lao động được kiện thẳng

Hồ sơ khởi kiện

Theo quy định của Điều 189 BLTTDS 2015 thì ngoài đơn khởi kiện có nội dung theo đúng quy định thì người khởi kiện cần gửi kèm theo các tài liệu chứng cứ chứng minh quyền lợi của mình bị xâm phạm, ví như Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính); Hợp đồng lao động; Quyết định chấm dứt HĐ lao động hoặc quyết định sa thải, thông báo cho nghỉ việc; Quyết định, biên bản hòa giải của hòa giải viên lao động của cơ quan lao động cấp quận, huyện của Hội đồng hòa giải cấp cơ sở hoặc của hội đồng trọng tài lao động thành phố đối với những trường hợp tranh chấp lao động tập thể; Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp (nếu có); Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

>> Xem thêm: Hướng dẫn khởi kiện tập thể tranh chấp lao động

Thủ tục khởi kiện

Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Nộp đơn khởi kiện

Sau khi chuẩn bị hồ sơ khởi kiện như đã đề cập ở mục trên, người khởi kiện nộp đơn đến Tòa án bằng một trong các hình thức sau, theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015:

  • Nộp trực tiếp tại Tòa.
  • Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính (gửi qua bưu điện).
  • Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Bước 2: Xử lý đơn khởi kiện

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

  • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
  • Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
  • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
  • Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bước 3: Thụ lý vụ án

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

(Căn cứ Điều 195 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015)

Bước 4: Chuẩn bị xét xử

Căn cứ điều 203  khoản 1 mục a  Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015:

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với những tranh chấp về hôn nhân và gia đình là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  • Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;
  • Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;
  • Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;
  • Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
  • Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;
  • Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

Sau khi thực hiện các công việc trong phạm vi quyền hạn của mình, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

  • Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
  • Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
  • Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
  • Đưa vụ án ra xét xử.

Bước 5: Đưa vụ án ra xét xử ở phiên tòa sơ thẩm

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

  • Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
  • Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
  • Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
  • Đưa vụ án ra xét xử.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

(Căn cứ khoản 3, 4 Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015)

Tòa án hòa giải tranh chấp lao động

Như vậy, trong một số trường hợp, hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc để khởi kiện. Khi có tranh chấp lao động, luôn nên tham khảo luật pháp hiện hành và tìm kiếm sự tư vấn pháp lý từ chuyên gia để biết được quy trình cụ thể và yêu cầu tại địa phương của bạn. Nếu trong quá trình tìm hiểu có bất kỳ thắc mắc hay vấn đề liên quan vui long liên hệ HOTLINE 1900.63.63.87 để được Luật Sư Lao Động hỗ trợ nhanh nhất.

>>>Bài viết có thể bạn quan tâm:

4.6 (16 bình chọn)

Bài viết được Nguyễn Văn Đệ - Luật sư kiểm duyệt: Nguyễn Trần Phương
Nguyễn Văn Đệ - Luật sư kiểm duyệt: Nguyễn Trần Phương

Tác giả: Chuyên Viên Pháp Lý

Lĩnh vực tư vấn: Lao Động, Hôn Nhân Gia Đình, Dân Sự, Thừa Kế

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 3

Tổng số bài viết: 787 bài viết