Luật Lao Động

Thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật

Thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật là cơ sở để người lao động hiểu rõ quyền lợi của mình khi bị chấm dứt hợp đồng không đúng quy định. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp sa thải được áp dụng sai căn cứ hoặc không tuân thủ trình tự pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Vì vậy, việc nắm chắc quy trình yêu cầu bồi thường, từ bước xác định hành vi sa thải trái luật, tiến hành hòa giải, khởi kiện đến các quyền lợi có thể yêu cầu là hết sức cần thiết. Trong bài viết này, Chuyên tư vấn luật sẽ trình bày chi tiết toàn bộ thủ tục và những nội dung mà người lao động cần lưu ý để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình.

Thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật
Thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật

Xác định chắc chắn việc sa thải là trái luật

Xác định chắc chắn việc sa thải là trái luật là bước quan trọng để làm cơ sở cho mọi yêu cầu bồi thường. Việc sa thải được coi là trái luật nếu người sử dụng lao động (NSDLĐ) vi phạm một trong các điều kiện về căn cứ, thời hiệu, trình tự, thẩm quyền, hoặc các trường hợp cấm sa thải theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 117 Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ) thì người sử dụng phải căn cứ vào Nội quy lao động và quy định pháp luật để xử lý kỷ luật lao động. Lưu ý Nội quy lao động phải đảm bảo có hiệu lực theo quy định Điều 118 và Điều 221 BLLĐ. Những hành vi áp dụng kỷ luật sa thải phải đảm bảo theo quy định Điều 125 BLLĐ.

Căn cứ Điều 123 BLLĐ, thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp vi phạm liên quan đến tài chính, tài sản, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, thì thời hiệu được kéo dài đến 12 tháng. Về nguyên tắc, hết thời hiệu thì NSDLĐ sẽ không được xử lý kỷ luật đối với NLĐ.

Căn cứ khoản 4 Điều 122 BLLĐ, NSDLĐ sẽ không được xử lý kỷ luật đối với NLĐ khi:

  • Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
  • Đang bị tạm giữ, tạm giam;
  • Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;
  • Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Khi hết thời gian trên, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

Trình tự xử lý kỷ luật lao động phải đúng quy định theo Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, chỉ khi NSDLĐ tuân thủ đầy đủ trình tự này thì quyết định sa thải mới có giá trị pháp lý.

NSDLĐ sẽ không được thực hiện các hành vi bị cấm khi xử lý kỷ luật lao động theo Điều 127 BLLĐ. Bên cạnh đó, căn cứ khoản 4 Điều 122 BLLĐ, NSDLĐ sẽ không được xử lý kỷ luật đối với NLĐ trong thời gian:

  • Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;
  • Đang bị tạm giữ, tạm giam;
  • Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật này;
  • Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 69 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động thuộc về người có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động hoặc  người được quy định cụ thể trong nội quy lao động.

Người lao động cần xem xét có hay không hành vi vi phạm một trong các nội dung nêu trên khi người sử dụng xử lý kỷ luật.Từ đó, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi kỷ luật trái luật.

Hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện

Hòa giải ở cơ sở là bước tiền tố tụng giúp các bên đối thoại trực tiếp, thu hẹp bất đồng và tìm giải pháp tự nguyện giữa hai bên và hòa giải viên lao động tại cơ sở đóng vai trò trung gian giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trước khi người lao động khởi kiện vụ án lao động ra Tòa án.

Việc hòa giải khi sa thải theo Điều 188 BLLĐ 2019 là không bắt buộc trước khi khởi kiện. Tuy nhiên, chuyên tư vấn luật khuyến nghị người lao động nên thực hiện hòa giải để có cơ hội giải quyết tranh chấp nhanh chóng, đồng thời củng cố thêm chứng cứ cho quá trình khởi kiện sau này.

NLĐ hoặc NSDLĐ nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến hòa giải viên lao động. Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, hòa giải viên phải kết thúc việc hòa giải.

Tại phiên họp hòa giải, hòa giải viên lao động hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp. Nếu hai bên thỏa thuận được,  hòa giải viên lập biên bản hòa giải thành.

Nếu các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên đưa ra phương án hòa giải. Nếu phương án bị từ chối, hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, hòa giải viên lập biên bản hòa giải không thành.

Khi có biên bản hòa giải không thành, người lao động mới có quyền tiếp tục đưa vụ việc ra Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nhân dân.

Khởi kiện yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật

Khi đã xác định quyết định sa thải trái luật và việc hòa giải không mang lại kết quả (hoặc bỏ qua bước hòa giải), thì bước kế tiếp cần thiết là nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện.

Khởi kiện kỷ luật lao dộng trái luật
Khởi kiện kỷ luật lao dộng trái luật

Thẩm quyền

Căn cứ Điều 32, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 (BLTTDS), thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động về kỷ luật sa thải thuộc về Tòa án nhân dân Khu vực nơi bị đơn cư trú nếu các bên không có thỏa thuận bằng văn bản xác định Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.

Đơn khởi kiện và thành phần hồ sơ

Đơn khởi kiện là văn bản quan trọng và bắt buộc cho hồ sơ khởi kiện tranh chấp lao động tại Tòa án. Theo quy định, hình thức và nội dung đơn phải tuân thủ Mẫu số 23-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, nội dung đơn khởi kiện phải tuân thủ hướng dẫn tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS.

Trong trường hợp trước khi khởi kiện, người lao động đã thực hiện thủ tục khiếu nại, cần tập hợp đầy đủ hồ sơ khiếu nại để nộp kèm theo (nếu Tòa án yêu cầu xem xét). Các tài liệu bao gồm:

  • Đơn khiếu nại;
  • Thông báo thụ lý khiếu nại;
  • Biên bản xác minh khiếu nại (nếu có);
  • Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1, lần 2 (nếu có);
  • Biên bản hòa giải tại cơ sở (Công đoàn hoặc Hòa giải viên lao động).

Những loại giấy tờ, tài liệu chứng minh cho quan hệ lao động; những giấy tờ, tài liệu chứng minh cho sự kiện tranh chấp giữa các bên như:

  • Hợp đồng lao động;
  • Quyết định kỷ luật sa thải;
  • Biên bản họp kỷ luật sa thải
  • Giấy tờ nhân thân (chứng minh nhân dân, căn cước công dân,…)\

>> Xem thêm: Luật sư khởi kiện khi người lao động bị kỷ luật sa thải trái luật

Thủ tục thụ lý

Căn cứ Điều 191 BLTTDS, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

  • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
  • Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn;
  • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
  • Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì trong trường hợp giải quyết về vấn đề bồi thường về sa thải thì người lao động được miễn án phí. Căn cứ khoản 4 Điều 195 BLTTDS, Thẩm phán sẽ tiến hành thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo và đơn xin miễn giảm án phí của người lao động.

Quy trình giải quyết

Quy trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án tiến hành như sau:

Bước 1: Giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo khoản 1 Điều 203 BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng, có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

  • Trường hợp hòa giải thành, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  • Trường hợp hòa giải không thành, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Bước 2: Đưa vụ án ra xét xử

Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Phiên tòa xét xử sơ thẩm được tiến hành theo trình tự nghiêm ngặt quy định từ Điều 237 đến Điều 267 BLTTDS bao gồm các phần: khai mạc phiên tòa, thủ tục hỏi, tranh tụng, nghị án và tuyên án.

Bước 3: Kháng cáo (nếu có)

Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, trường hợp các bên đương sự không đồng ý với bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên thì đương sự có quyền nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung bản án. Thời hạn các bên kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, trường hợp đương sự vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời gian 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được tuyên án. Trường hợp quá 15 ngày thời hạn được kháng cáo thì đương sự vẫn có quyền kháng cáo quá hạn theo Điều 275 BLTTDS.

Thi hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực của tòa án

Căn cứ Điều 35 Luật thi hành án Dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 (LTHADS) quy định  thẩm quyền thi hành án thuộc về cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.

Thời hiệu yêu cầu thi hành bản án dân sự là 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo Điều 30 LTHADS. Đơn yêu cầu thi hành án phải được nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp với tòa án đã ra bản án sơ thẩm.

Theo khoản 1 Điều 45 LTHADS thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn quy định trên, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Việc thi hành án phải được thực hiện công khai, minh bạch và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên liên quan.

Khuyến nghị về các yêu cầu bồi thường khi khởi kiện

Căn cứ quy định tại Điều 41 BLLĐ, khi người sử dụng lao động chấm dứt trái luật (trong đó có sa thải trái quy định), người lao động có thể yêu cầu:

  • Nhận lại làm việc;
  • Tiền lương của những ngày không được làm việc và đóng BHXH, BHYT, BHTN cho thời gian đó;
  • Ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động;
  • Nếu người sử dụng lao động vi phạm thời hạn báo trước thì trả thêm tiền lương tương ứng số ngày không báo trước;
  • Nếu người lao động không muốn quay lại làm việc, ngoài các khoản trên còn được trợ cấp thôi việc (Điều 46 BLLĐ);
  • Nếu người sử dụng lao động không muốn nhận lại và người lao động đồng ý thì thỏa thuận thêm, ít nhất bằng 02 tháng lương (ngoài các khoản phải trả).

Lưu ý: Khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp và có đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc, người sử dụng lao động phải chi trả khoản trợ cấp này theo nguyên tắc mỗi năm làm việc được trợ cấp bằng 1/2 tháng tiền lương không bao gồm thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cách tính cụ thể về thời gian làm việc và tiền lương được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP.

>> Xem thêm: Mức lương nào để tính bồi thường thiệt hại do bị sa thải trái luật

Dịch vụ luật sư trong việc thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật

Chuyên tư vấn luật sẽ cung cấp dịch vụ tư vấn, hướng dẫn trong việc thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật bao gồm:

  • Phân tích hồ sơ, đánh giá tính trái pháp luật của quyết định sa thải;
  • Tư vấn thủ tục khiếu nại quyết định sa thải và hòa giải tranh chấp lao động tại cơ sở;
  • Soạn thảo đơn khởi kiện lao động, đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại;
  • Chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ sa thải trái luật;
  • Đại diện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền, theo dõi thủ tục thụ lý;
  • Tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bảo vệ quyền lợi người lao động;
  • Tư vấn các khoản bồi thường: khoản bồi thường có thể được nhận khi bị sa thải trái luật;
  • Hỗ trợ thi hành án: yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành; giám sát việc chi trả, chốt sổ/đóng bổ sung BHXH, bố trí việc làm lại; áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu cần.
Tư vấn yêu cầu bồi thường do kỷ luật lao động trái luật
Tư vấn yêu cầu bồi thường do kỷ luật lao động trái luật

Câu hỏi thường gặp khi thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật là bao lâu?

Căn cứ quy định tại Điều 190 BLLĐ thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (tức là từ ngày bị sa thải/chấm dứt HĐLĐ trái luật).

NLĐ có cần phải gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến NSDLĐ trước khi nộp đơn khởi kiện không?

Theo quy định của pháp luật thì không bắt buộc phải gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến người sử dụng lao động. Nhưng người khởi kiện phải gửi đơn khởi kiện đến người bị kiện theo quy định khoản 9 Điều 70  BLTTDS.

Ngoài các khoản bồi thường bằng tiền, NLĐ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần không?

BLLĐ không quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần. Các khoản bồi thường được giới hạn theo Điều 41 BLLĐ. Tuy nhiên, luật sư có thể tư vấn về khả năng đưa ra yêu cầu bổ sung nếu có căn cứ pháp luật khác.

Sau khi có bản án, nếu NSDLĐ không tự nguyện thi hành giải quyết như thế nào?

Người lao động nộp đơn yêu cầu thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực. Cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu bên phải thi hành không tự nguyện (khấu trừ, kê biên, phong tỏa…).

CSPL: Điều 30, 44, 71 Luật Thi hành án dân sự  2008.

Nếu doanh nghiệp không tham gia hòa giải thì có ảnh hưởng việc khởi kiện không?

Nếu doanh nghiệp từ chối tham gia hòa giải hoặc không phối hợp trong quá trình hòa giải thì điều này không làm cản trở hay ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của người lao động. Theo Điều 188 BLLĐ, tranh chấp liên quan đến sa thải thuộc nhóm không bắt buộc phải hòa giải trước khi nộp đơn khởi kiện. Do đó, dù hòa giải không diễn ra hoặc doanh nghiệp cố tình tránh né, người lao động vẫn hoàn toàn có quyền khởi kiện trực tiếp tại Tòa án.

Kết luận

Thủ tục yêu cầu bồi thường do bị sa thải trái luật đòi hỏi người lao động nắm vững căn cứ pháp luật về kỷ luật sa thải, quyền khởi kiện và cơ chế bồi thường theo BLLĐ, BLTTDS và Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Việc xác định chính xác tính “trái luật”, chuẩn bị chứng cứ đầy đủ và lựa chọn chiến lược phù hợp (hòa giải, khởi kiện, thương lượng) sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tố tụng và tối đa hóa quyền lợi được bồi thường. Để được hỗ trợ pháp lý kịp thời và hiệu quả, vui lòng liên hệ Chuyên tư vấn luật qua hotline: 1900636387.

4.9 (19 bình chọn)

Bài viết được Luật sư Nguyễn Trần Phương
Luật sư Nguyễn Trần Phương

Tác giả: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Dân sự, hôn nhân gia đình, thừa kế, lao động

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 6

Tổng số bài viết: 38 bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *