Giải quyết tranh chấp tiền lương thưởng theo quy định mới nhất là một nội dung quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật lao động hiện nay, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như duy trì sự ổn định trong quan hệ lao động. Việc nhận diện nguyên nhân và tuân thủ quy trình giải quyết theo pháp luật là yếu tố cốt lõi để bảo đảm quyền lợi các bên và duy trì trật tự lao động hài hòa, ổn định. Bài viết này Chuyên tư vấn luật sẽ phân tích chi tiết các phương án giải quyết tranh chấp tiền lương thưởng theo quy định mới nhất để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Mục Lục
- Phân biệt lương, thưởng và các tranh chấp phổ biến
- Thương lượng nội bộ giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng
- Hòa giải lao động tranh chấp tiền lương, thưởng
- Khởi kiện tranh chấp tiền lương, thưởng
- Thi hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực của tòa án
- Dịch vụ luật sư về giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng
- Câu hỏi thường gặp về giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng
- Tranh chấp về tiền lương có được khởi kiện ngay ra Tòa án mà không cần qua hòa giải không?
- Người sử dụng lao động bị xử phạt như thế nào nếu trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng?
- Cơ sở để yêu cầu NSDLĐ trả thưởng khi chưa có quy chế thưởng chính thức là gì?
- Người lao động có thể đòi tiền lương khi doanh nghiệp chậm trả bao lâu?
- Kết luận
Phân biệt lương, thưởng và các tranh chấp phổ biến
Trong quan hệ lao động, lương và thưởng thường bị nhầm lẫn nhưng bản chất pháp lý và cách chi trả hoàn toàn khác nhau.
Căn cứ Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ), tiền lương là khoản trả cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Cấu trúc tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác.
Tiền thưởng không phải nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mà phụ thuộc quyết định của người sử dụng lao động căn cứ kết quả sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc của người lao động theo Điều 104 Bộ luật Lao động 2019.
Tuy nhiên khi doanh nghiệp đã ban hành quy chế thưởng, thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể thì quy chế thưởng có giá trị ràng buộc pháp lý. Người lao động đáp ứng điều kiện trong quy chế thưởng có quyền yêu cầu doanh nghiệp chi trả theo đúng cam kết.
Tranh chấp tiền lương
Tranh chấp tiền lương là dạng mâu thuẫn xuất hiện thường xuyên nhất trong quan hệ lao động, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cụ thể như sau:
- Người sử dụng lao động không trả hoặc trả thấp hơn mức lương đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
- Người sử dụng lao động trả lương chậm hoặc không đúng kỳ hạn.
- Người sử dụng không đóng hoặc không tính đủ các khoản phụ cấp lương, khoản bổ sung làm giảm thu nhập thực tế của người lao động.
- Tính sai căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và thuế thu nhập cá nhân dẫn đến người lao động bị thiệt hại quyền lợi về chế độ bảo hiểm xã hội theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Tranh chấp về tiền lương luôn là nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng lap động. Trong trường hợp này người lao động hoàn toàn có quyền yêu cầu người sử dụng lao động trả đủ tiền lương, trả đúng hạn và bồi thường tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật.
Tranh chấp tiền thưởng
Khác với tiền lương là nghĩa vụ bắt buộc, tiền thưởng chỉ phát sinh quyền đòi khi có căn cứ rõ ràng và người lao động đã đáp ứng điều kiện. Nguyên nhân thông thường làm phát sinh tranh chấp tiền thưởng bao gồm:
- Doanh nghiệp không trả thưởng dù đã ban hành quy chế thưởng rõ ràng và người lao động đáp ứng đầy đủ điều kiện xét thưởng.
- Doanh nghiệp thay đổi hoặc hủy quy chế thưởng mà không công bố công khai hoặc không thỏa thuận với công đoàn cơ sở vi phạm nguyên tắc công khai minh bạch trong quan hệ lao động.
- Tranh chấp về điều kiện xét thưởng như chỉ tiêu KPI, doanh số bán hàng, năng suất lao động thường phát sinh khi quy chế thưởng không quy định cụ thể tiêu chí đo lường.
Người lao động chỉ có cơ sở pháp lý yêu cầu chi trả tiền thưởng khi:
- Quy chế thưởng đã được công bố trong quy chế nội quy lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động hoặc quyết định, email nội bộ của doanh nghiệp. Quy chế thưởng phải nêu rõ điều kiện xét thưởng, mức thưởng cụ thể
- Người lao động đã đạt các điều kiện đó.
Nếu doanh nghiệp chưa ban hành quy chế thưởng hoặc quy định mơ hồ không có tiêu chí đo lường thì khả năng người lao động yêu cầu chi trả tiền thưởng rất hạn chế.
Thương lượng nội bộ giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng
Thương lượng nội bộ là bước đầu tiên người lao động nên thực hiện để giải quyết tranh chấp tiền lương thưởng với người sử dụng lao động. Phương thức này giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và duy trì quan hệ lao động tốt đẹp giữa hai bên. Người lao động cần chuẩn bị căn cứ pháp lý và bằng chứng cụ thể để thương lượng hiệu quả với doanh nghiệp.
Người lao động soạn thảo văn bản yêu cầu thanh toán tiền lương/thưởng gửi đến bộ phận nhân sự hoặc ban giám đốc công ty kèm bảng tính chênh lệch giữa số tiền phải trả và số tiền đã nhận. Đồng thời căn cứ theo quy định Điều 90, Điều 104 BLLĐ để xác định đúng tiền lương, tiền thưởng theo quy định của pháp luật. Bảng tính cần chi tiết từng khoản tiền lương cơ bản, phụ cấp lương, lương làm thêm giờ, làm ban đêm, tiền thưởng theo quy chế và tổng số tiền người sử dụng lao động còn nợ.
Người lao động ấn định thời hạn phản hồi từ 05 đến 07 ngày làm việc để người sử dụng lao động xem xét và giải quyết yêu cầu thanh toán. Nếu người sử dụng lao động chấp nhận thanh toán thì hai bên lập biên bản thỏa thuận ghi rõ số tiền, thời hạn thanh toán và chữ ký xác nhận của cả hai bên. Trường hợp người sử dụng lao động từ chối hoặc không phản hồi trong thời hạn thì người lao động có thể yêu cầu hòa giải bằng hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện tại Tòa án hoặc Hội đồng trọng tài lao động theo quy định tại Điều 188 BLLĐ.
>> Xem thêm: Hướng dẫn quy trình giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương

Hòa giải lao động tranh chấp tiền lương, thưởng
Hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là thủ tục bắt buộc trước khi người lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết theo Điều 188 Bộ luật Lao động 2019.
Thời hiệu yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương thưởng là 06 tháng kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động 2019.
Căn cứ Điều 187, Điều 188 Bộ luật Lao động 2019 thì thẩm quyền tiến hành hòa giải tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương, thưởng thuộc về Hòa giải viên lao động. Việc cử hòa giải viên lao động do Sở Nội vụ hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Người yêu cầu cần gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động và tài liệu hồ sơ đính kèm đến cơ quan có thẩm quyền. Một số tài liệu đính kèm có thể là:
- Bản sao hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng;
- Bản sao phiếu lương hoặc bảng kê tiền lương đã nhận;
- Bản sao quy chế thưởng hoặc thỏa ước lao động tập thể nếu tranh chấp về tiền thưởng;
- Bản sao quyết định tuyển dụng, quyết định bổ nhiệm, email hoặc văn bản nội bộ của doanh nghiệp xác nhận nghĩa vụ trả tiền lương thưởng.
Trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải viên được thực hiện như sau:
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu hòa giải
Căn cứ khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 95 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trình tự tiếp nhận và xử lý đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động được thực hiện theo hướng sau:
- Các bên nộp đơn yêu cầu hòa giải tại cơ quan có thẩm quyền hoặc cho hòa giải viên
- Đơn phải nêu rõ thông tin các bên, nội dung tranh chấp và yêu cầu giải quyết
- Cơ quan tiếp nhận phân loại đơn và có văn bản cử hòa giải viên lao động giải quyết theo quy định.
Bước 2: Tiến hành Phiên họp hòa giải
Căn cứ khoản 3 Điều 188 BLLĐ, tại phiên họp hòa giải, các bên tranh chấp đều phải có mặt, các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải. Theo đó, hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.
Trong trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét.
Bước 3: Kết thúc quá trình hòa giải
Căn cứ khoản 2 Điều 188 BLLĐ, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181 BLLĐ, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
Biên bản hòa giải thành và biên bản hòa giải không thành đều phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.
Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Khởi kiện tranh chấp tiền lương, thưởng
Căn cứ khoản 3 Điều 190 BLLĐ, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động tranh chấp về tiền lương, thưởng là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Căn cứ Điều 32, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 (BLTTDS), thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương, thưởng thuộc về Tòa án nhân dân Khu vực nơi bị đơn cư trú nếu các bên không có thỏa thuận bằng văn bản xác định Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 40 BLLĐ, tranh chấp về tiền lương, thưởng thì nguyên đơn là người lao động có thể lựa chọn Tòa án nơi mình cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.
Đơn khởi kiện và thành phần hồ sơ
Người khởi kiện cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện bao gồm:
- Đơn khởi kiện theo mẫu số 23-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP;
- Hợp đồng lao động và phụ lục (nếu có);
- Bản sao chứng thực Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;
- Nếu người khởi kiện ủy quyền cho người khác thì phải có giấy ủy quyền hợp lệ (phải công chứng/ chứng thực).
- Đơn khiếu nại;
- Thông báo thụ lý khiếu nại;
- Biên bản xác minh khiếu nại (nếu có);
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1, lần 2 (nếu có);
- Biên bản hòa giải tại cơ sở (Công đoàn hoặc Hòa giải viên lao động).
- Bảng lương, phiếu lương, sao kê tài khoản trả lương để chứng minh việc trả lương chưa đúng hoặc chưa đủ.
- Tờ rời đóng BHXH, BHYT, BHTN hoặc sổ bảo hiểm xã hội để làm rõ nghĩa vụ đóng bảo hiểm của doanh nghiệp.
- Bản sao quy chế thưởng hoặc thỏa ước lao động tập thể nếu tranh chấp về tiền thưởng;
- Bản sao quyết định tuyển dụng, quyết định bổ nhiệm, email hoặc văn bản nội bộ của doanh nghiệp xác nhận nghĩa vụ trả tiền lương thưởng.
Việc chuẩn bị đơn khởi kiện và hồ sơ đầy đủ, hợp lệ là điều kiện quan trọng để Tòa án thụ lý và giải quyết tranh chấp tiền lương, tiền thưởng đúng quy định pháp luật.
Thủ tục thụ lý
Căn cứ Điều 195 BLTTDS, sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì trong trường hợp giải quyết về vấn đề tiền lương thì người lao động được miễn án phí thì thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
>> Xem thêm: Tranh chấp lao động về lương, thưởng và cách giải quyết.
Trình tự, thủ tục giải quyết
Quy trình giải quyết gồm các bước sau:
Bước 1: Giai đoạn chuẩn bị xét xử
Theo khoản 1 Điều 203 BLTTDS, thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng, có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Trường hợp hòa giải thành, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- Trường hợp hòa giải không thành, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Bước 2: Đưa vụ án ra xét xử
Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Phiên tòa xét xử sơ thẩm được tiến hành theo trình tự nghiêm ngặt quy định từ Điều 237 đến Điều 267 BLTTDS 2015 bao gồm các phần: khai mạc phiên tòa, thủ tục hỏi, tranh tụng, nghị án và tuyên án.
Bước 3: Kháng cáo
Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, trường hợp các bên đương sự không đồng ý với bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên thì đương sự có quyền nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung bản án.
Thời hạn các bên kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, trường hợp đương sự vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời gian 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được tuyên án.
Trường hợp quá 15 ngày thời hạn được kháng cáo thì đương sự vẫn có quyền kháng cáo quá hạn theo Điều 275 BLTTDS.
>> Xem thêm: Trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động tại tòa
Thi hành bản án hoặc quyết định có hiệu lực của tòa án
Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực, quyền – nghĩa vụ của các bên được bảo đảm bằng cơ chế thi hành án dân sự. Căn cứ Điều 35 Luật thi hành án Dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2025 (LTHADS) quy định thẩm quyền thi hành án thuộc về cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Thời hiệu yêu cầu thi hành bản án dân sự là 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo Điều 30 LTHADS. Đơn yêu cầu thi hành án phải được nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Theo khoản 1 Điều 45 LTHADS thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn quy định trên, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Việc thi hành án phải được thực hiện công khai, minh bạch và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên liên quan.
>> Xem thêm: Thủ tục thi hành bản án dân sự của cơ quan thi hành án
Dịch vụ luật sư về giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng
Chuyên tư vấn luật cung cấp dịch vụ tư vấn, hướng dẫn giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng bao gồm:
- Tư vấn căn cứ pháp lý: tiền lương, thưởng, phụ cấp, khấu trừ lương, trả lương làm thêm giờ, nghỉ việc, thanh toán khi chấm dứt HĐLĐ.
- Đánh giá hồ sơ, tính tiền lương, tiền lãi chậm trả, tiền phép năm, lập bảng tính chi tiết kèm chứng cứ.
- Soạn công văn yêu cầu thanh toán, thương lượng, hòa giải với doanh nghiệp; đại diện làm việc với hòa giải viên lao động.
- Đại diện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền, theo dõi thủ tục thụ lý
- Tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bảo vệ quyền lợi người lao động.
- Hỗ trợ thi hành án: nộp đơn yêu cầu, truy tìm tài sản, phối hợp kê biên, xử lý tài sản để thu hồi quyền lợi.

Câu hỏi thường gặp về giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng
Tranh chấp về tiền lương có được khởi kiện ngay ra Tòa án mà không cần qua hòa giải không?
Căn cứ khoản 1 Điều 188 BLLĐ và hướng dẫn 33/HD-VKSTC thì tranh chấp về tiền lương thuộc các trường hợp bắt buộc phải thông qua hòa giải bằng hòa giải viên lao động. Tranh chấp tiền lương, tiền thưởng không được khởi kiện ngay ra Tòa án mà phải qua thủ tục hòa giải lao động trước.
Người sử dụng lao động bị xử phạt như thế nào nếu trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng?
Căn cứ khoản 3 Điều 17 Nghị định 12/2020/NĐ-CP thì tùy vào số lượng người lao động bị trả lương thấp hơn lương tối thiểu vùng mà người sử dụng lao động là cá nhân bị phạt từ 20 – 75 triệu đồng. Trong khi đó, theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động là tổ chức vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi từ 40 – 150 triệu đồng.
Ngoài việc bị phạt tiền, doanh nghiệp còn buộc phải trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền trả thiếu cho người lao động. Mức lãi suất sẽ được tính theo mức lãi tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm doanh nghiệp bị xử phạt.
Cơ sở để yêu cầu NSDLĐ trả thưởng khi chưa có quy chế thưởng chính thức là gì?
Nếu chưa có quy chế thưởng, NLĐ vẫn có cơ sở để đòi thưởng nếu có thỏa thuận rõ ràng về điều kiện và mức thưởng trong Hợp đồng lao động, Thỏa ước lao động tập thể, quyết định bằng văn bản (như quyết định thưởng nhân dịp lễ Tết, quyết định khen thưởng dự án, v.v.) hoặc các hình thức cam kết nội bộ khác (như email, thông báo chính thức) đã được công bố và NLĐ đã hoàn thành điều kiện được nêu.
Người lao động có thể đòi tiền lương khi doanh nghiệp chậm trả bao lâu?
Theo Điều 94 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp phải trả lương đúng hạn; nếu chậm quá 15 ngày mà không có lý do chính đáng, phải trả thêm tiền lãi tương ứng với thời gian chậm. Người lao động có thể khiếu nại hoặc yêu cầu hòa giải nếu doanh nghiệp vi phạm.
Kết luận
Việc giải quyết tranh chấp tiền lương, thưởng theo quy định hiện hành cần được thực hiện tuần tự, đúng trình tự pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Người lao động nên chủ động nắm rõ sự khác biệt giữa tiền lương và tiền thưởng, thu thập đầy đủ chứng cứ để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để được hỗ trợ pháp lý kịp thời và hiệu quả, vui lòng liên hệ Chuyên tư vấn luật qua hotline: 1900636387.


























