Luật Hình Sự

Không hiểu biết pháp luật khi phạm tội có được giảm án

Không hiểu biết pháp luật khi phạm tội thì có được giảm án không? Nguyên nhân chính là do họ thiếu hiểu biết pháp luật. Hầu hết họ là đối tượng có trình độ học vấn thấp, thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình, ít xem đài, đọc báo, công tác tuyên truyền về pháp luật của chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh doanh,… chưa đến với các đối tượng này. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này.

Không hiểu biết pháp luật khi phạm tội có được giảm án không?

Phân biệt giảm án và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?

Giảm án:

  • Giảm án là giảm thời hạn chấp hành hoặc hình thức chấp hành hình phạt.
  • Giảm án được thực hiện bởi Toà án, trên cơ sở quyết định cho đối tượng là người đang chấp hành hình phạt.
  • Việc giảm thời hạn các hình phạt khác hoặc thời gian thử thách thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực, nơi người bị kết án chấp hành hình phạt hoặc thử thách.

Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể giảm đi, là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội.

Điều kiện được giảm án

Điều kiện được giảm án

Điều kiện được giảm án quy định tại Điều 63, Điều 64 và Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 bao gồm các trường hợp: giảm mức phạt đã tuyên trong trường hợp bình thường Khoản 1, 2, 3 Điều 63; giảm mức hình phạt đã tuyên đối với trường hợp phạm tội mới sau khi đã được giảm một phần hình phạt theo Khoản 4, 5 Điều 63; giảm hình phạt đã tuyên là hình phạt tử hình theo Khoản 6 Điều 63 và giảm mức hình phạt đã tuyên trong trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 64 Bộ luật Hình sự 2015.

Giảm mức phạt đã tuyên trong trường hợp bình thường

Giảm mức hình phạt đã tuyên trong trường hợp bình thường được quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 63 Bộ luật Hình sự 2015, theo tinh thần các quy định này thì điều kiện để được xét giảm mức hình phạt đã tuyên trong trường hợp bình thường bao gồm hai nhóm điều kiện cần và đủ. Các điều kiện cần là các điều kiện về nội dung bao gồm:

  • Người bị kết án đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân được một thời gian nhất định;
  • Người bị kết án có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự.

Giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án phạm tội mới

Đối với người phạm tội mới sau khi đã được giảm một phần hình phạt thì điều kiện về thời gian để được xét giảm phát lâu hơn so với trường hợp bình thường bởi bản thân họ chưa có sự liên tục trong việc tu dưỡng, quyết tâm cải tạo bản thân Giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người phạm tội phạm tội mới được quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 63 Bộ luật Hình sự 2015, cụ thể:

  • Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
  • Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì chỉ được xét giảm lần đầu sau khi đã chấp hành được hai phần ba hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì phải chấp hành 15 và mức giảm xuống tù 30 năm. Người phạm tội có thể được giảm nhiều lần nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành hình phạt là 25 năm”.

Các điều kiện còn lại có nội dung tương tự như trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên trong trường hợp bình thường.

Giảm hình phạt đã tuyên là hình phạt tử hình

Khoản 6 Điều 63 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình được quy định tại Điểm b hoặc Điểm c Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm”.

Khoản 3 Điều 40 Bộ luật này quy định không thi hành án tử hình đối với Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên hoặc người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Các trường hợp trên cùng với trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển xuống chung thân và điều kiện để giảm mức hình phạt đã tuyên đối với các trường hợp này được quy định tại khoản 6 Điều 63 Bộ luật này.

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt

Theo Điều 64 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn và với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 Bộ luật này.

Như vậy, theo quy định thì đối tượng có thể được xét giảm trong trường hợp này là người đang chấp hành hình phạt tù và hình phạt cải tạo không giam giữ. Tuy nhiên, do tính chất của biện pháp này nên trên thực tế quy định này chỉ được áp dụng cho đối tượng đang chấp hành hình phạt tù. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp đặc biệt khác với trong trường hợp bình thường ở điều kiện xét giảm, mức độ giám và thời gian để được xét giảm.

Điều kiện xét giảm, theo quy định trên thì Điều 63 Bộ luật Hình sự 2015 yêu cầu thêm lý do đáng được khoan hồng như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Đây là những lý do đặc biệt dẫn đến sự cần thiết phải xét giảm sớm hơn và ở mức độ cao hơn so với trường hợp bình thường.

>>> Xem thêm: Các tình tiết giảm nhẹ và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Thời điểm xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

Theo Điều 12 Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 12 tháng 8 năm 2021 Tòa án Nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng ban hành quy định về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tạm đình chỉ và giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì quy định về thời điểm xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù như sau:

  • Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 (ba) đợt, vào các dịp: Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), ngày Quốc khánh (2/9) và tết Nguyên đán. Đối với các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, thực hiện việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù vào dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12) thay cho dịp tết Nguyên đán. Năm để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được xác định từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm đó.
  • Mỗi năm 01 phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 01 lần theo quy định tại Điều 38 của Luật Thi hành án hình sự. Sau lần xét giảm đầu tiên, nếu các năm tiếp theo phạm nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được xét giảm vào đúng đợt mà đã được xét giảm lần đầu. Trường hợp đã được giảm mà thời hạn tù còn lại không đủ 01 năm thì năm tiếp theo có thể đề nghị xét giảm sớm hơn 01 đợt, nhưng vẫn phải bảo đảm mỗi năm chỉ được xét giảm 01 lần.

Không hiểu biết pháp luật khi phạm tội có được giảm án hay không?

Theo quy định của pháp luật có thể hiểu không phải đối tượng nào cũng được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, việc giảm án chỉ áp dụng cho người phạm tội có quá trình cải tạo tốt, luôn tuân thủ nội quy, quy định của trại giam. Trong quá trình cải tạo, những đối tượng này đã biết ăn năn, hối cải về hành vi của mình, trở nên hoàn lương và hướng thiện.

Việc giảm án thể hiện sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta vì vậy nên các đối tượng được xem xét giảm án phải là những đối tượng đáp ứng các điều kiện theo quy định chung, tránh trường hợp giảm án cho những đối tượng không xứng đáng, giảm đồng loạt làm ảnh hưởng đến xã hội, thiếu sự công bằng và thậm chí có thể làm cho tình hình tội phạm ngày càng tăng.

Trên thực tế, pháp luật không quy định không hiểu biết pháp luật khi phạm tội sẽ được giảm án. Bởi lẽ, khi thực hiện hành vi phạm tội đã thuộc vào phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Hình sự. Nếu muốn được giảm án thì người phạm tội phải thỏa mãn các điều kiện được xét giảm án theo quy định của pháp luật.

Luật sư xin giảm án tù cho người phạm tội

  • Luật sư tư vấn quy định pháp luật đối với hành vi xảy ra cho khách hàng có vi phạm pháp luật hay không và nếu trong trường hợp có thì có cấu thành tội phạm hay không cho khách hàng của mình.
  • Chỉ rõ chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm cho khách hàng nắm được chính xác hành vi của mình.
  • Chỉ rõ khi nào được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự.
  • Tư vấn mức độ nguy hiểm của tội danh.
  • Tư vấn xác định thời gian bị tạm giam, tạm giữ.
  • Soạn thảo đơn từ, các văn bản pháp lý cho khách hàng.
  • Luật sư gặp gỡ trực tiếp thân chủ trong trại tạm giam hoặc phối hợp, liên lạc với cơ quan chức năng để làm sáng tỏ, bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho thân chủ.
  • Tham gia trực tiếp bào chữa cho thân chủ tại phiên Tòa.
  • Thu thập tài liệu chứng cứ minh oan, giảm nhẹ hình phạt hoặc tìm ra sự thật khách quan của vụ án để nhằm áp dụng tối đa các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

 

Luật sư xin giảm án phạt tù cho người phạm tội

Luật sư xin giảm án phạt tù cho người phạm tội

Trên đây là những nội dung của chúng tôi cung cấp về vấn đề không hiểu biết pháp luật thì có được giảm án không. Nếu Quý khách có bất kỳ thắc mắc hay chưa rõ vấn đề nào bài viết trên hoặc vấn đề pháp lý liên quan đến Luật Hình Sự vui lòng liên hệ tới hotline: 1900.63.63.87 để được tư vấn cụ thể và nhanh chóng. Xin cảm ơn!

4.6 (14 bình chọn)

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Võ Tấn Lộc
Avatar

Chức vụ: Luật Sư Thành Viên

Lĩnh vực tư vấn: Hợp Đồng, Dân Sự, Sở Hữu Trí Tuệ

Trình độ đào tạo: Đại học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 807 bài viết

error: Content is protected !!