KHÁI NIỆM TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ

09 /012018

KHÁI NIỆM TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ

Tài sản đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, là vấn đề được toàn thể xã hội quan tâm, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân. Theo quy định tại điều 105 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Tài sản theo quy định của BLDS 2015 đã có ba điểm bổ sung mang tính nổi bật:

Một là, khẳng định tài sản bao gồm động sản và bất động sản;

Hai là, xác định tài sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Ba là, quy định cụ thể khái niệm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

1. Phân loại tài sản là vật

Tài sản là vật được chia thành các loại như sau:

- Vật cùng loại và vật đặc định (Điều 113 BLDS 2015):

“Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường. Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau.”

Đối với vật cùng loại trong pháp luật dân sự có đưa ra các mối quan hệ như: Thực hiện nghĩa vụ giao vật, nghĩa vụ trả nợ của bên vay bằng vật cùng loại, tài sản hoàn trả là vật cùng loại. Đối với các quan hệ nêu trên thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật cùng loại trừ khi có thỏa thuận khác. Các bên có thể thảo thuận với nhau về nghĩa vụ giao vật cùng loại hoặc thanh toán bằng cách khác mà giá trị tương đương.

“Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó.”

Vì vật đặc định có những tính chất và đặc điểm riêng biệt nên các nghĩa vụ và quan hệ dân sự xoay quanh vật đặc định đặc biệt hơn vật cùng loại. Vật cùng loại có thể thay thế cho nhau vì chúng có chung các đặc điểm và tính chất có thể thay thế cho nhau được, còn vật đặc định nó mang những tính chất riêng biệt đồi hỏi các nghĩa vụ dân sự kiên quan đến vật đặc định phải giao đúng vật và không thể thay thế bằng vật khác mà không có thỏa thuận. Trường hợp vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác( khoản 10 điều 372 BLDS 2015, ĐIỀU 383 BLDS 2015.

- Vật đồng bộ: “Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.” Vi phạm nghĩa vụ giao vật đồng bộ sẽ phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định tại Điều 438 Bộ luật Dân sự 2015 về Trách nhiệm do giao vật không đồng bộ:

“1. Trường hợp vật được giao không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

a) Nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hoãn thanh toán phần hoặc bộ phận đã nhận cho đến khi vật được giao đồng bộ;

b) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Trường hợp bên mua đã trả tiền nhưng chưa nhận vật do giao không đồng bộ thì được trả lãi đối với số tiền đã trả theo lãi suất thỏa thuận giữa các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do giao vật không đồng bộ, kể từ thời điểm phải thực hiện hợp đồng cho đến khi vật được giao đồng bộ.”

Vật đồng bộ được quy định tại Điều 114 BLDS 2015 là đối tượng của các hợp đồng chuyển quyền sở hữu hoặc hợp đồng chuyển quyền sử dụng. Nếu vật không đồng bộ sẽ không sử dụng được hoặc sử dụng kém hiệu quả… Vì vậy, nếu bên bán giao vật không đồng bộ thì bên mua có quyền:

  1. Nhận một phần vật đồng bộ đúng với thỏa thuận hoặc theo quy định và yêu cầu bên bán giao tiếp vật hoặc bộ phận còn thiếu và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có);
  2. Nếu bên bán giao vật không đồng bộ mà bên mua đã yêu cầu khắc phục, nhưng bên bán cố tình vi phạm thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).

Trường hợp bên mua đã trả tiền mà chưa nhận vật đồng bộ thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán trả lãi theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm/ số tiền bên mua đã thanh toán. Trường hợp các bên không thỏa thuận về trả lãi thì lãi suất phải trả là 50% mức lãi suất giới hạn/ số tiền đã thanh toán. Ngoài ra, bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra do giao vật không đồng bộ.

Như vậy, khi bạn giao vật không đồng bộ như trên thì hậu quả pháp lý mà bạn phải chịu đó là buộc phải thực hiện tiếp hợp đồng, có thể bị hủy bỏ hợp đồng, bị phạt trả lãi và phải bồi thường thiệt hại nếu có gây ra thiệt hại.

- Vật tiêu hao và vật không tiêu hao

“Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu”.

“ Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu.”

BLDS 2015 chỉ nêu ra lợi ích của việc xác định tài sản nào đó là vật tiêu hao hay không tiêu hao tại Điều 112, khoản 1 BLDS như sau: “Tài sản tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn tài sản”. Nghĩa là các tài sản có thể cho thuê, cho mượn không thể là những vật tiêu hao. Thật vậy, đối với tài sản tiêu hao, sử dụng đồng nghĩa với định đoạt và chuyển quyền sử dụng bao hàm cả việc chuyển quyền sở hữu. Tài sản tiêu hao không thể cho thuê, cho mượn nhưng lại có thể cho “mượn” để tiêu dùng hay định đoạt. Loại giao dịch này luật viết hiện hành gọi tên là hợp đồng vay tài sản (Điều 467 BLDS 2015). Khi đó, người vay nhận tài sản, sau một thời gian (sử dụng tự do), phải trả lại cho người cho vay vật cùng loại có giá trị tương đương với vật đã vay trước đó. Loại giao dịch này khá phổ biến trong cuộc sống (như vay tiền, vay gạo...) cũng như trong giao dịch kinh doanh (vay hàng, vay vật tư...).

- Vật chia được và vật không chia được

“Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu.

Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu.”

Căn cứ để xác định vật chia được và vật không phân chia được là dựa vào tính chất vật lý và tính năng sử dụng của nó. Nếu một vật không bị phân chia mà vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu thì vật đó là vật chia được. Ví dụ: gạo, xăng, dầu là những vật có thể phân chia thành nhiều phần mà vẫn giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu thì gọi là vật không chia được (ví dụ: giường tủ...là vật không chia được, hay các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền tài sản không chia được). Cách thức phân chia được đơn giản hơn nhiều so với việc phân chia vật không chia được. Đối với vật chia được người ta sẽ tiến hành phân chia chúng thành những phần bằng nhau, hay theo những tỷ lệ nhất định do các bên thỏa thuận, chủ thể nào cũng có thể nhận được vật đem phân chia để khai thác các tính năng và công dụng của vật đó.

Nhưng khi muốn phân chia vật không chia được thì không thể xẻ chúng thành những phần bằng nhau, mà phải định giá thành tiền để phân chia. Và như vậy thì sẽ có chủ thể nhận được đúng vật không chia được, nhưng cũng có chủ thể chỉ nhận được phần tiền tương ứng với giá trị của vật mà người đó được hưởng mà thôi.

- Vật chính và vật phụ, được quy định tại Điều 110 BLDS 2015:

“Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng.

Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính.

Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Ví dụ, máy ảnh được coi là vật chính, vỏ máy ảnh được coi là vật phụ.

Với công dụng phục vụ trực tiếp cho việc khai thác công dụng của vật chính nên về nguyên tắc, vật chính và vật phụ là đối tượng thống nhất, có cùng một chủ sở hữu. Nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì vật phụ sẽ đi kèm với vật chính khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính.

2. Phân loại tài sản là bất động sản và động sản

Theo quy định tại khoản 1 điều 107 BLDS 2015 thì bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

* Các quyền liên quan đến bất động sản:

• Quyền sở hữu: gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

• Quyền sử dụng: Là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định.

• Quyền định đoạt: là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản.

• Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ 3 quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.

• Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao do pháp luật quy định.

• Quyền chiếm hữu: là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. ở nước ta, chế độ sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân mà nhà nước là người đại diện cho quyền sở hữu đất đai, chỉ có Nhà nước mới có quyền giao hoặc cho thuê đất, trong hoạt động của thị trường giao hoặc cho thuê đất (thị trường sơ cấp), Nhà nước có vai trò độc quyền và định đoạt hoàn toàn.

Tài sản là động sản: “ Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

3. Quyền tài sản

Điều 115 BLDS 2015 quy định về quyền tài sản như sau:

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Trong đó quyền sở hữu trí tuệ là: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng(điều 4 luật sỡ hữu trí tuệ).

Quyền sử dụng đất: Theo Luật đất đai 2013 định nghĩa thì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân và do Nhà nước làm chủ sở hữu. Nhà nước theo đó trao quyền sử dụng đất cho người dân thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất. Luật cũng công nhận quyền sử dụng đất đối với những người sử dụng đất ổn định và quy định về quyền cũng như nghĩa vụ chung của người sử dụng đất.

BLDS 2015 quy định một số trường hợp cụ thể về mua bán quyền tài sản quy định tại điều 450,

4. Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

“Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.”

Như vậy theo quy định trên thì một sản được coi là tài sản hiện có khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện là tài sản đã hình thành đã có và tài sản đó đã xác lập quyền sở hữu hoặc các quyền khác có liên quan. Thiếu một trong các điều kiện trên thì tài sản không được xem là hiện có.

“Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

a) Tài sản chưa hình thành;

b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.”

Trong các trường hợp kinh doanh nhà ở kinh doanh nhà chung cư thì chủ đầu tư có quyền rao bán nhà hình thành trong tương lai để huy động vốn. các căn nhà này chưa hình thành, chưa xác lập quyền sở hữu. Các căn nhà này được xem là tài sản hình thành trong tương lai cho đến khi chủ đầu tư nộp giấy hồ sơ lên cho các cơ quan chức năng để xác lập quyền sở hữu thì khi đó các căn nhà này mới được xem là tài sản hiện có.

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.